Những bài học về lý luận và thực tiễn đảm bảo thực thi hiệu quả đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng

13/10/2022 00:00
232

PGS. TS. NGUYỄN NGỌC THIỆN


Trong quá trình triển khai thực hiện đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng hơn 70 năm qua kể từ Đề cương v văn hóa Việt Nam (1943), có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, đảm bảo đưa đường lối đó đi vào đời sống văn hóa-xã hội của đất nước, phát huy có hiệu quả vai trò của văn hóa, văn nghệ trong cách mạng tư tưởng và văn hóa ở Việt Nam.

   Bài học đầu tiên là phải luôn luôn kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về văn hóa, văn nghệ nói riêng, tức vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý mácxít-lêninnít về văn hóa, văn nghệ vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, từng bước đặt ra những mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, quan tâm giành những hiệu quả thiết thực, đi từ thấp đến cao trên các lĩnh vực chủ yếu: tư tưởng, văn hóa mới, con người mới.

   Phải quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa xây và chống, bảo vệ cho sự thắng lợi của cái đúng, cái tốt, cái đẹp; kiên quyết đấu tranh, phê phán triệt để, chống lại những cái sai, cái tiêu cực, cái xấu và lạc hậu; kịp thời ngăn chặn ảnh hưởng độc hại của tàn dư văn hóa phong kiến, tư bản, đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới xâm nhập vào đời sống xã hội; chống lại sự tự diễn biến, làm suy thoái tư tưởng, tha hóa về đạo đức và lối sống, nhân cách, sự xuống cấp của các chuẩn mực văn hóa, môi trường văn hóa và cộng đồng xã hội dân cư.

   Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa VI về các văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định: "Kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin một cách sáng tạo. Chúng ta phải đấu tranh chống những luận điệu và thủ đoạn đả kích, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Marx-Lenin từ phía những thế lực thù địch, những kẻ cơ hội"1.

   Phải chú trọng giáo dục theo những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, đặc biệt gây dựng phong trào học tập, quán triệt và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

   Ngay từ năm 1948, trong Báo cáo Chủ nghĩa Marx và vấn đ văn hóa Việt Nam, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng đã nêu vấn đề về việc "nghiên cứu, học tập cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx- Lenin của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Tiếp đó, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng đã có những bài viết, bài nói, cuốn sách tập trung làm rõ tấm gương sáng và những giá trị tiêu biểu trong tư tưởng, đạo đức, tác phong cao đẹp và cuộc đời trong sáng, giản dị, hết lòng vì nước, vì dân của Người để đông đảo quần chúng noi gương, học tập, làm theo. Là sản phẩm tinh hoa của một người yêu nước nồng nàn, một chiến sĩ cộng sản quốc tế, danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng dân tộc, "trong thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội"2.

   Ngày nay, việc học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi, một công việc thường xuyên, hàng ngày, góp phần tích cực vào việc thực hiện cách mạng tư tưởng và văn hóa ở Việt Nam, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới theo tấm gương của Bác Hồ. Những tư tưởng sâu sắc, thiên tài của Bác Hồ: "Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em (văn nghệ sĩ) là chiến sĩ trên mặt trận ấy"; "trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn học gánh một phần rất quan trọng"; "ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà"; "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi"; "văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ"; "trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa"; "dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng"; "văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị"; "nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc"; "chớ gò bó họ (văn nghệ sĩ) vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo"; "nghệ thuật chân chính cốt để phục vụ nhân dân, đồng thời phục vụ tinh thần quốc tế"; "quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích"; "lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới"3...

   Những tư tưởng gốc, anh minh được trình bày giản dị mà sáng rõ như trên đã là kim chỉ nam định hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, ngày càng được quán triệt và vận dụng sáng tạo trong đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm hoàn thiện những quan điểm nền tảng, chỉ đạo của chiến lược ấy.

   Quan điểm của Đảng về mục tiêu của sự nghiệp văn hóa Việt Nam có sự nhất quán trước-sau, đó là xây dựng nền văn hóa theo định hướng tư tưởng của chủ nghĩa Marx-Lenin, của lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa.

   Từ Đại hội VI của Đảng, thuật ngữ "Văn hóa nội dung xã hội chủ nghĩa, đậm đà tính chất dân tộc" được thay thế bằng thuật ngữ "Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Tiên tiến ở đây là tiên tiến về tư tưởng Marx-Lenin trên cơ sở của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa của một xã hội không còn áp bức, người bóc lột người. Với thuật ngữ "Đậm đà tính chất dân tộc" được thay bằng "Đậm đà bản sắc dân tộc" tức là nhấn mạnh phẩm chất tinh hoa, kết tinh, mang những nét riêng, đặc thù, có ý nghĩa làm căn cước để nhận diện, phân biệt với các nền văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới, hội nhập vào văn hóa nhân loại nhưng vẫn giữ được những cốt cách riêng của mình, không để hòa tan, đánh mất mình, lai căng về gốc rễ. Bản sắc dân tộc là một thực thể tinh thần, là cái hồn, cốt cách bền vững, giá trị cao của một nền văn hóa, làm cho nó không bị trộn lẫn, bởi sự độc đáo có một không hai của nó. Văn hóa tiên tiến là chiều cao, bản sắc dân tộc là chiều sâu, hai chiều kích đó của nền văn hóa mới hài hòa thành một thực thể thống nhất. Vì vậy Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội VII của Đảng đã xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng.

   Bài học thứ 2 là sự đề cao quan điểm quần chúng, quan điểm nhân dân, thể hiện sự tôn trọng nhân tố cốt lõi là con người, phục vụ con người của nền văn hóa, văn nghệ mới, tính chất nhân văn của nền văn hóa đó.

   Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Trong cách mạng tư tưởng và văn hóa cũng vậy, văn hóa, văn nghệ từ chỗ là một mặt trận được nâng cao lên thành một sự nghiệp có sự tham gia của đông đảo các tầng lớp quần chúng, do nhân dân làm chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.

   Văn hóa, văn nghệ đòi hỏi sự thực hành dân chủ một cách rộng rãi và thiết thực, tập hợp đoàn kết nhân dân tham gia từ cơ sở, từ đơn vị tế bào của xã hội là gia đình, các cộng đồng dân cư thuộc các đơn vị hành chính, tổ chức. Lôi cuốn sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào sự xây dựng và phát huy văn hóa, văn nghệ mới là để huy động tận độ các tiềm năng trong nhân dân: tiềm năng sáng tạo, phổ biến và thường thức; tiềm năng đóng góp các nguồn lực vật chất để giữ gìn, bảo vệ và tôn tạo các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng các thiết chế văn hóa mới, hỗ trợ cho nguồn vốn có hạn của nhà nước trong đầu tư kinh phí; tiềm năng trong đối ngoại nhân dân, giao lưu quốc tế về văn hóa trong quảng bá phát triển văn hóa du lịch; trong xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từ cơ sở với môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống và lối sống văn minh, giữ gìn phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp từ truyền thống bao đời, xây dựng các quy ước tiêu chuẩn mới về cộng đồng dân cư có văn hóa với từng gia đình văn hóa; đấu tranh ngăn chặn các ảnh hưởng xấu của văn hóa phản động, đồi trụy làm tha hóa con người, bảo vệ văn hóa dân tộc trong sự thống nhất và đa dạng của văn hóa các tộc người bình đẳng, không phân biệt đối xử là dân tộc thiểu số hay đa số...

   Nếu như trong Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943), Đảng chưa đề cập đến vấn đề xây dựng con người trong hoạt động văn hóa, văn nghệ thì từ Bản báo cáo Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam (1948) trở đi, cho đến những Nghị quyết của Đảng gần đây về văn hóa, văn nghệ đã thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân", "làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do", "phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích cho riêng mình", "làm thế nào cho ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng", "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi"4. Các quan điểm văn hóa, văn nghệ của Đảng đã thể hiện sự coi trọng, tôn vinh con người, coi con người là động lực quan trọng nhất và là mục tiêu phục vụ và xây dựng của mọi hoạt động kinh tế, xã hội, là động lực của sự phát triển, ổn định đất nước.

   Văn hóa phải được nhận chân trong việc góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của con người xã hội, làm thay đổi tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tâm lý, lối sống, nếp sống của con người theo hướng tích cực, đáp ứng những mục tiêu cao đẹp của sự hoàn thiện nhân cách, xứng đáng với những yêu cầu cao của sự nghiệp cách mạng. Trong các bộ phận cấu thành văn hóa dân tộc thì văn học, nghệ thuật là bộ phận trọng yếu nhất, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân-thiện- mĩ. Bộ phận nhạy cảm đặc biệt của văn hóa này có tác dụng to lớn trong việc bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức mới của xã hội, xây dựng con người mới Việt Nam. Văn học, nghệ thuật thông qua các hình tượng nghệ thuật cao đẹp, tác động lâu bền, mạnh mẽ vào thế giới bên trong sâu kín của con người mà không có hình thái ý nghĩa xã hội nào của thượng tầng kiến trúc thay thế được. Từ đó, văn học, nghệ thuật làm chuyển biến hành động của con người. Đó là sức mạnh, nội lực tiềm ẩn của văn học, nghệ thuật nói riêng, văn hóa nói chung mà chúng ta cần ý thức một cách đầy đủ nhằm phát huy tính tích cực xã hội của văn học, nghệ thuật với các chức năng: nhận thức, khám phá, sáng tạo đời sống xã hội và đời sống bên trong của con người; vai trò "kỹ sư tâm hồn" của sáng tạo văn học, nghệ thuật với đa chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giao tiếp và dự báo của nó.

   Coi trọng nhân tố con người tức là đề cao, khẳng định tính chất nhân văn của văn hóa, văn nghệ. Mặt khác, coi trọng con người trong lĩnh vực văn hóa cũng đồng thời là tôn trọng vai trò quan trọng các trí thức văn hóa, văn nghệ sĩ - những chủ thể sáng tạo các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng quan tâm tạo mọi điều kiện tinh thần, vật chất để giải phóng sức sáng tạo của văn hóa, văn nghệ; khuyến khích, bồi dưỡng, chăm lo cho các tài năng được phát triển, đảm bảo quyền tự do sáng tác, thực hiện đầy đủ quyền tác giả, xem lao động nghệ thuật cũng là một thứ lao động đặc thù, một hoạt động sản xuất tinh thần có đóng góp cho sự phát triển xã hội không kém những hoạt động sản xuất vật chất. Ở đây nghĩa vụ công dân và trách nhiệm nghề nghiệp cao quý mang tính đặc thù cùng những thành quả lao động thể hiện tài năng hiếm có và công phu, tâm huyết sáng tạo trong tìm tòi và thể hiện của văn nghệ sĩ được đánh giá đúng mức, trân trọng, vinh danh và được hưởng sự đãi ngộ xứng đáng.

   Bài học thứ ba là không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Đảng và Nhà nước; chăm lo xây dựng các chế độ, chính sách, thực hiện thể chế hóa các quan điểm, đường lối, định hướng của Đảng về văn hóa, văn nghệ.

   Cần khắc phục sự chồng chéo trong khi triển khai các công tác giữa cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước về văn hóa, văn nghệ. Khắc phục sự ôm đồm, bao biện về một phía mà cần có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước, từ đó có sự phối hợp chặt chẽ nhằm đạt hiệu quả chung.

   Đảng tập trung vào việc lãnh đạo, xây dựng các đường lối, chủ trương, định hướng nhiệm vụ của văn hóa, văn nghệ trong các giai đoạn của cách mạng; kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng về mặt tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ. Các cơ quan chính quyền có nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, ban hành các chế độ, chính sách cụ thể nhằm giúp đường lối, chủ trương của Đảng đi vào đời sống thực tế; quản lý các hoạt động văn hóa, văn nghệ đi đúng các định hướng chỉ đạo của Đảng trong sáng tạo, thưởng thức và tiếp nhận, giao lưu và quảng bá các giá trị văn hóa; phối hợp với các tổ chức hội chính trị-xã hội-nghề nghiệp trong các lĩnh vực khoa học-kỹ thuật, văn học-nghệ thuật.

   Cần nâng cao, xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. "Văn hóa phải ở trong kinh tế, chính trị" như lời dạy của Bác Hồ, nghĩa là phải xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước và đoàn thể, giúp cho các cán bộ ở đó nâng cao trình độ hiểu biết về đường lối, chính sách văn hóa, văn nghệ của Đảng; gương mẫu, tận tụy trong lời nói và việc làm; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhân cách, tha hóa, chạy theo lợi ích vì đồng tiền và thói vị kỷ. Quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế tức tạo lập môi trường văn hóa pháp lý trong kinh doanh sản xuất, tạo ra những sản phẩm văn hóa lành mạnh; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, cạnh tranh lành mạnh; xây dựng chữ tín, phát triển các thương hiệu Việt Nam có uy tín trong thị trường trong nước và quốc tế; không làm hàng giả, hàng xấu, kém phẩm chất làm thiệt hại cho người tiêu dùng trong sử dụng, trong an toàn sức khỏe.

   Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: "Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"5.

   Chính sách văn hóa là một bộ phận của chính sách xã hội, phải thể hiện sự tôn trọng con người, phát huy mạnh mẽ năng lực sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của nhân dân thuộc tầng lớp xã hội khác nhau.

   Chính sách văn hóa để phát huy hiệu quả thực tế, không bị lạc hậu với sự phát triển, tăng trưởng của đời sống văn hóa trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế, cần phải dựa vào những nhu cầu văn hóa cấp thiết của nhân dân trong mỗi giai đoạn, cần có sự tham gia hoạch định, phản biện và sự hưởng ứng đồng thuận của nhân dân đông đảo, không vì chỉ phục vụ cho những lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương bản vị, chỉ nhằm vào những lợi ích vật chất thiển cận.

   Chính sách văn hóa cần năng động điều chỉnh kịp thời những phương diện lạc hậu, lỗi thời so với tình hình thực tế để ngày càng phù hợp với thực tiễn phong phú, đa dạng. Nó cũng phải thể hiện được tinh thần đối thoại dân chủ và khoan dung, xem xét mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau ở nhiều góc độ, không thể cứng nhắc rập khuôn, tránh dẫn đến những xung đột văn hóa, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc.

   Phải tính đến mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế trong bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài. Đề phòng xu hướng chạy theo những cái mốt nhất thời chuộng lạ, lai căng, mất gốc, bằng những thiết chế có sức thuyết phục, có sự tham chiếu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong khu vực hoặc trên toàn cầu, hài hòa giữa gìn giữ, phát huy những yếu tố nội sinh với bổ sung, cập nhật, cách tân bằng những yếu tố ngoại sinh tốt.

   Tóm lại, phải mạnh dạn và khẩn trương xây dựng, ban hành kịp thời những chính sách văn hóa phù hợp với những yêu cầu đặt ra trước mắt cũng như sẽ tồn tại lâu dài để "văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển"6 như chiến lược xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang được thực hiện.

   Bài học thứ tư là coi trọng công tác nghiên cứu đề xuất lý luận, tổng kết thực tiễn để phát triển, bổ sung, hoàn thiện lý luận, phát huy kịp thời vai trò của lý luận vào việc không ngừng hiện đại hóa hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật và thể chế văn hóa mới, đáp ứng yêu cầu vượt qua những thách thức bột phát nảy sinh, dự báo tình hình sắp tới để chủ động nắm bắt những thời cơ thuận lợi, hành động đạt hiệu quả cao.

   Từ sau  Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943) của Đảng, những văn kiện và Nghị quyết tiếp theo có liên quan đến văn hóa, văn nghệ hoặc trực tiếp bàn về văn hóa, văn nghệ của Đảng trong mỗi giai đoạn cách mạng, trước khi nêu ra những định hướng và nhiệm vụ trong tình hình mới cùng những giải pháp kèm theo, điều đầu tiên trong các văn kiện nói trên bao giờ cũng dành cho việc nhìn lại, kiểm điểm tình hình thực hiện các Nghị quyết đã ban hành, nhận định về những ưu, khuyết điểm để rút kinh nghiệm và kịp thời khắc phục, sửa chữa, cải tiến.

   Trong báo cáo Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam (1948), đồng chí Trường Chinh đã dành cả chương III để nhìn lại toàn cảnh tình hình văn hóa Việt Nam xưa và nay, từ thời kỳ chế độ phong kiến đến thời hiện đại nửa đầu thế kỷ XX và cho đến những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945, từ đó đề ra tính chất và nhiệm vụ của việc xây dựng nền văn hóa dân chủ mới ở Việt Nam, phát triển những nguyên tắc cơ bản về dân tộc hóa, khoa học hóa, quần chúng hóa mà Đề cương về văn hóa Việt Nam đã khẳng định, để "kiên quyết tẩy trừ những khuynh hướng sai lầm trong văn nghệ, những bệnh vốn có của nền văn hóa nước nhà hoặc lây truyền bởi văn hóa đồi trụy của thực dân Pháp"7.

   Bước vào những năm đầu hòa bình lập lại ở Miền Bắc, tiến vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong các thư gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (1957), lần thứ ba (1962) và lần thứ tư (1968), Đảng đều có phần đánh giá tình hình thời gian qua để làm cơ sở cho việc đề ra đường lối xây dựng nền văn nghệ mới xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Tổ quốc, đấu tranh cho sự thống nhất đất nước. Với tinh thần phê bình và tự phê bình, Đảng nghiêm khắc nhận rõ những thiếu sót của sự lãnh đạo về văn nghệ, như: những cơ quan trực tiếp phụ trách văn nghệ đã có những lệch lạc, coi nhẹ lãnh đạo tư tưởng, nhất là trong hòa bình, hẹp hòi trong lãnh đạo sáng tạo, cô độc có tính chất bè phái trong lãnh đạo và tổ chức; các văn nghệ sĩ lập trường cách mạng chưa được dứt khoát, rõ ràng, sự hiểu biết về đời sống nhân dân chưa được sâu sắc, còn phạm chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa sơ lược; hoặc đối với những vấn đề của cách mạng xã hội chủ nghĩa, văn nghệ sĩ tỏ ra chưa thông cảm, nhạy bén như đối với những vấn đề của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; nhiều tác phẩm văn nghệ chưa có tính đảng rõ rệt, một số ngành nghệ thuật xuất hiện bệnh “lai căng”; công tác lý luận, phê bình văn nghệ còn yếu. Từ đó Đảng yêu cầu văn nghệ sĩ phải nâng cao chất lượng tư tưởng và nghệ thuật bằng cách học tập, thấm nhuần tư tưởng Marx-Lenin và đường lối chính sách của Đảng, gắn bó mật thiết với đời sống lao động và chiến đấu của quần chúng, trau dồi sự hiểu biết vốn quý của văn nghệ dân tộc và tiếp thu tinh hoa của văn nghệ nước ngoài, kiên quyết và thường xuyên chống ảnh hưởng tai hại của nghệ thuật tư sản, của chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều; làm cho tác phẩm văn học, nghệ thuật trở thành vũ khí sắc bén, có giá trị cao, phản ánh chân thật cuộc sống và chiến đấu của nhân dân; đồng thời đề ra và giải quyết đúng đắn những vấn đề nóng hổi về tình cảm và tinh thần của quần chúng, nêu cao lý tưởng của Đảng và soi sáng phương hướng đấu tranh của giai cấp công nhân và của dân tộc. Báo cáo của đồng chí Tố Hữu Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại "Nhân văn-Giai phẩm" trên mặt trận văn nghệ (1958) và Đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, nâng cao nhiệt tình cách mạng và tính chiến đấu trong văn nghệ (1964) được xem như những bản kiểm điểm, phê bình sâu sắc, kịp thời rút ra những bài học trong việc Đảng lãnh đạo đấu tranh chống những biểu hiện hữu khuynh, chủ nghĩa xét lại hiện đại từng gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, ngăn cản quá trình xây dựng nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa có tính chất dân tộc.

   Bước vào thời kỳ Đổi mới, trong Nghị quyết 05/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa VI (1987), Đảng đã tự phê bình khuyết điểm là: Trong nhiều năm, chưa có lần nào bàn kỹ và ra nghị quyết về văn hóa, văn nghệ, chưa chú ý cải tiến phương thức lãnh đạo văn hóa, văn nghệ cho phù hợp với tình hình mới. Nhiều cấp ủy Đảng chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo và ít được bồi dưỡng kiến thức về lĩnh vực quan trọng nhưng phức tạp này. Công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa, văn nghệ có nhiều biểu hiện giản đơn, thô thiển, thiếu dân chủ. Cơ chế và chính sách quản lý, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quản lý sự nghiệp văn hóa, văn nghệ có trình độ ngang tầm với nhiệm vụ chưa được coi trọng, đó cũng là một nguyên nhân quan trọng hạn chế việc phát huy tiềm năng sáng tạo trong văn hóa, văn nghệ.

   Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1993) nhìn lại Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị trước đó, Đảng khẳng định những quan điểm đổi mới có tính chất nguyên tắc đã được đề ra trong Nghị quyết 05 có tác dụng thúc đẩy hoạt động sáng tạo nghệ thuật, nhưng cũng chỉ ra những thiếu sót của Nghị quyết này ở chỗ chưa đánh giá thật đúng tính phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa, văn nghệ khi bước vào thời kỳ Đổi mới, chưa lường trước và đề ra được những biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với văn hóa, văn nghệ. Việc truyền đạt và tổ chức thực hiện Nghị quyết này có nhiều sai sót, một số cấp ủy và cơ quan nhà nước không kịp thời phân rõ đúng-sai, còn né tránh, rụt rè trong xử lý hoặc sử dụng những biện pháp hành chính không thích hợp. Vì vậy, một số đảng viên dao động, giảm sút lòng tin, không giữ vững lập trường của Đảng.

   Những Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X (2008), Nghị quyết 33- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2014), Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021), Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (24.11.2021) và Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 theo Quyết định của Chính phủ ngày 12.11.2021... đã lưu ý về tác hại của xu hướng "thương mại hóa" khiến văn học, nghệ thuật có biểu hiện chạy theo những đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chạy theo những thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng; coi nhẹ chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí, nghiệp dư hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật; hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật tụt hậu so với yêu cầu, giảm sút tính khoa học, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả, tác phẩm; văn hóa phê bình bị hạ thấp, việc thể chế hóa các nghị quyết, quan điểm của Đảng còn chậm, chưa được cụ thể hóa trong thực tiễn; một bộ phận cán bộ lãnh đạo, tham mưu, quản lý văn hóa, văn nghệ còn thiếu hiểu biết về văn học, nghệ thuật, ít học tập, ngại tiếp xúc nên hiệu quả lãnh đạo, quản lý còn thấp. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải... Từ đó Đảng đề ra những nhiệm vụ giải pháp để khẩn trương khắc phục những căn bệnh nói trên, nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn, khả năng dự báo, tiếp tục định hướng phát triển văn học, văn nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường có sự quản lý nhà nước, xây dựng con người mới phát triển hài hòa, toàn diện, chủ động hội nhập và có đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn hóa nhân loại.

   Trên đây là những bài học kinh nghiệm chủ yếu rút ra từ hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm đảm bảo sự nhất quán có tính chất nguyên tắc và sự tiếp tục, không ngừng bổ sung phát triển để hoàn thiện đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng trong hơn 70 năm qua, trở thành một thành tố quan trọng trong xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng dân chung, khoa học và nhân văn ■

 

Chú thích:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, tr.127.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Sđd, tr.127-128.
3Hồ Chí Minh (1971), V công tác văn hóa, văn nghệ, NXB Sự thật, tr.7,17,19,20,30, 63,64, 70, 72, tr.91.
4 H Chí Minh (1971), Sđd, tr.72
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Sự thật, tr.79.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Sđd, tr.75-76.
7 Trường Chinh (1985), V văn hóa và nghệ thuật, tập I, NXB Văn học, tr.99.

(Nguồn: Lý luận Phê bình Văn học, nghệ thuật  - 6/2022)