LỄ HỘI CẦU MƯA ĐẦU NĂM CỦA NGƯỜI CHĂM TỈNH BÌNH THUẬN

05/01/2023 00:00
187

LÂM TẤN BÌNH



Thầy múa lễ Kaing trong nghi thức thả bè xuống sông để tống khứ những xấu xa của năm cũ


Lễ hội cầu mưa hay còn gọi là lễ hội đạp lửa đầu năm (Rija Nâgar) của người Chăm Bình Thuận nói chung là một trong những loại hình lễ múa trong hệ thống lễ Rija do làng palei hoặc là gia đình tộc họ còn lưu giữ tổ chức hàng năm vào đầu tháng 1 Chăm lịch, nhằm vào khoảng tháng 3 Dương lịch.

   Lễ hội cầu mưa đầu năm được diễn ra vào thời khắc giao mùa của vạn vật đất trời giữa mùa nắng và mùa mưa, mang ý nghĩa xua tan đi thời tiết nắng nóng của mùa khô hạn và tống khứ những điều xấu xa, ô uế còn sót lại của năm cũ để bước sang năm mới cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làng palei yên vui, âm dương giao hòa, nhân sinh vật thịnh. Trong dân gian Chăm có câu ngụ ngôn “Tacah yawa grâm bilan sa”, tạm dịch: “Khi nghe tiếng sấm Đông Tây, người Chăm hẳn biết là ngày đầu năm”.

   Thời gian diễn ra nghi thức lễ hội cầu mưa là 2 ngày 1 đêm, thường nhằm vào ngày thứ Ba và thứ Tư hay thứ Bảy và chủ Nhật, so với Ninh Thuận thì nhằm vào thứ Năm và thứ Sáu.

   Về lễ vật dâng cúng, ngày đầu tiên gồm 03 con gà, cơm canh, cá kho cá nướng, bánh trái, trầu cau rượu trà, trứng muối…trước khi dâng cúng những lễ vật mang tính dương này để mời các vị thần Núi và thần Biển về thụ hưởng và để cho thầy Kaing múa đạp lửa vào buổi tối, các vị chủ lễ và dân làng phải dâng cúng các món cơm chay (lisei yol) và chè xôi vào buổi chiều để khấn nguyện Tổ mẫu Po Inâ nâgar tiêu biểu cho âm tính, rồi qua ngày hôm sau mới cúng Dê để dâng cúng Thượng đế (Po Aew luah) sau nghi thức hành lễ thả bè trôi sông trở về hoàn tất công việc lễ hội. Người Chăm gọi là (Tamâ mânuk tabiak pabaiy) tạm dịch: vào Gà ra Dê.

   Trình tự nghi thức lễ hội cầu mưa đầu năm do sư cả vỗ (Mâduen gru) làm chủ lễ điều hành, có sự tham gia xuyên suốt của thầy múa lễ (Kaing) và dân làng là hình ảnh chủ đạo của từng điệu múa theo từng giai điệu hòa âm của trống ginang và kèn saranai nhằm tưởng nhớ ngợi ca các vị thần liên quan gồm các nghi lễ theo dạng thức sân khấu lễ hội như sau:

   1/ Lễ khấn nguyện

   Đi vào hành lễ, Sư cả vỗ là người điều hành lễ hội cầu mưa vỗ trống Baranâng và cất giọng hát bài tụng ca mời Thần xứ sở Po Inâ nâgar đến chứng giám và hưởng mâm cỗ lễ vật, cùng với thầy múa lễ Kaing xòe chiếc quạt đỏ trước ngực ngồi chính diện bàn tổ đọc lời khấn nguyện thần linh, tất cả dân làng đều chấp tay trên đầu hướng về bàn tổ cùng nhau khấn nguyện, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con người mạnh khỏe, làng palei bình an.

   2/ Lễ múa

   2.1. Điệu múa chậm Po Inâ  

   Sau khi đọc xong lời khấn nguyện Po Inâ nâgar, thầy múa lễ Kaing đứng dậy trước bàn tổ chỉnh sửa trang phục trong điệu múa nhịp nhàng khoan thai theo điệu trống Po Inâ do Ban nhạc hòa âm để hiến dâng lên Tổ mẫu Po Inâ nâgar.

   2.2 Điệu múa uyển chuyển Po Dara

   Xong điệu múa Po Inâ, Kaing quay về bàn tổ xòe quạt khấn vái 3 lần rồi tiếp tục múa giai điệu Po Dara thướt tha uyển chuyển để mời nữ thần Po Dara con của Po Inâ đến cùng chung vui mâm cỗ và ban phước lành cho thần dân.

   2.3 Điệu múa chắc nhịp Katung

   Kết thúc điệu múa Po Dara, thầy múa lễ Kaing ngồi xuống bàn tổ tiếp tục đọc lời khấn nguyện trên nền trống Baranâng của sư cả Vỗ hòa với bài hát thánh ca mời vị thần núi Po Bal Mâh với điệu trống Katung trong bước chân chắc nhịp qua động tác múa của thầy Kaing thể hiện sự quyết tâm của dân làng sẽ tống khứ xua tan những điều xấu xa rủi ro của năm cũ.

   2.4 Điệu múa đạp lửa Kape -jawa

   Âm thanh điệu hát Thánh ca huyền diệu nhưng rất hùng hồn của chức sắc Mâduen gru (Sư cả vỗ) lại tiếp tục cất lên trên nền giai điệu âm nhạc trầm hùng của tiếng trống Baranâng hòa với lời kinh khấn nguyện du dương cùng với những điệu múa nhịp nhàng, uyển chuyển và hào hùng của thầy múa lễ Kaing quyết chí đạp tắt ngọn lửa hồng.

   Trở về bàn tổ thầy múa lễ Kaing tiếp tục xòe chiếc quạt hồng khấn nguyện và nhập đồng khi nghe điệu trống Kape thôi thúc sôi động bằng điệu múa nhanh dần để tạo ra dũng khí. Lúc này tất cả dân làng đều nằm lạy khấn nguyện, thầy phụ việc vội lấy đôi kiếm lễ đỏ hồng hun khói trầm 3 vòng rồi đưa cho Kaing. Nhận được đôi kiếm lễ Kaing nhập đồng múa xông trận trong điệu trống jawa, sau một hồi múa kiếm xoay quanh đống lửa hồng trong tiếng hò reo thúc giục của các thanh niên và dân làng vây quanh, thầy Kaing nhập thần nhảy vào đạp tắt ngọn lửa đang cháy bùng, tất cả dân đều vỗ tay hò reo mừng vui với ý niệm đã xua tan đi nắng nóng của mùa khô hạn cùng những tai ương rủi ro của năm cũ, để được đón nhận những may mắn trong đầu năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con người bình an, sinh sôi nảy nở.

   2.5 Điệu múa phồn thực tưởng nhớ cội nguồn

   Bày tỏ cùng niềm vui đó, đôi nam nữ thanh niên được dân làng tiến cử cùng nhau bước lên bàn tổ khấn nguyện để xin hiến dâng điệu múa phồn thực theo lễ tục để tưởng nhớ đến cội nguồn, hòa cùng niềm vui chung các đôi nam nữ dân làng rủ nhau tiến ra trước rạp lễ múa động tác âm dương giao hòa trong tiếng vui đùa rộn ràng của dân làng “hay à hay”, cầu mong cho sự giao hòa của âm dương đất trời, vạn vật sinh sôi nảy nở theo quy luật tái tạo vòng đời người, gia đình hạnh phúc, làng palei yên vui.

   2.6 Điệu múa chèo thuyền bằng cây mía để tưởng nhớ Po Tang Ahaok

   Sau điệu múa phồn thực của dân làng, thầy múa lễ Kaing trở lại bàn tổ khấn nguyện trong điệu hát lễ ca ngợi Po Tang Ahaok của Sư cả vỗ Mâduen gru kể về sự tích hào hùng của vị thần biển Po Tang Ahaok đã chèo thuyền vượt qua sóng biển trùng dương lúc gặp thiên tai bão táp. Thầy múa lễ Kaing tái hiện hình ảnh của thần biển Po Tang Ahaok cùng với đoàn thủy thủ tay cầm cây mía thay cho mái chèo trong điệu múa Po Riyak nhịp nhàng nhưng vững chắc tay chèo cùng nhau vượt qua sóng biển muôn trùng, thoát khỏi tai ương hoạn nạn. Trở về trong sự bình yên thần biển Po Tang Ahaok mừng yến tiệc thiết đãi công trạng của các chàng trai lực lưỡng trong đoàn thuyền bằng chính bầu rượu nhiệm mầu của Ngài. Chính hình ảnh quyết tâm vượt qua tai ương sóng gió của Đoàn thuyền ngày xưa đã trở thành lễ tục trong nghi thức Lễ hội đạp lửa cầu mưa đầu năm của người Chăm Bình Thuận đến bây giờ vẫn còn lưu giữ.  

   2.7 Cuối cùng là nghi thức múa thả bè hay còn gọi là múa Tống ôn

   Đôi thanh niên nam nữ múa phồn thực là người được dân làng chọn để bưng 02 chiếc bè lập đàn khấn nguyện trước bàn tổ của các vị thần linh. Lễ vật trên 02 chiếc bè là hình nhân được nắn từ bột gạo, tiêu biểu cho 12 con giáp cùng một số lễ vật. Sau khi khấn nguyện xong, đôi nam nữ bưng 02 chiếc bè được đặt trên mâm cao tiến về phía trước rạp lễ đặt xuống 02 bên, thầy múa lễ Kaing tay phải cầm nắm gạo nổ, tay trái cầm vãi điều lung linh trong điệu múa Jalitai uyển chuyển tiến lên rãi gạo nổ ban lễ vật cho hình nhân trên 02 chiếc bè mang theo để thế thân (người Chăm gọi là Palao salih).      

   Sau điệu múa Jalitai lả lướt như sóng nước êm đềm, thầy múa lễ Kaing lại cầm đôi kiếm nhập thần khua tay múa võ đi xoay quanh 02 chiếc bè một vòng  trong điệu trống jawa thôi thúc cùng với nhịp múa mừng vui rộn ràng của dân làng, sau đó thầy múa lễ Kaing nhập lại đôi kiếm lễ chỉ lên trời khấn nguyện rồi dẫn đường cho đôi nam nữ bưng 02 mâm cao salih cùng tất cả dân làng tống đưa 02 chiếc bè mang xuống sông thả trôi đi những điều xấu xa, xui xẻo còn rơi rớt lại của năm cũ và cầu mong Thượng đế ban phước lành cho dân làng được bình yên, sung túc trong niềm vui hạnh phúc của từng gia đình và cả làng palei trong năm mới.

   Những lễ thức đó đã hòa quyện vào nhau tạo thành giai điệu nghệ thuật mang bản sắc riêng, khơi dậy từ tiềm thức tín ngưỡng tâm linh của con người trong niềm biết ơn sâu sắc đối với Thượng đế, Thần linh và đất trời đã phù hộ cho con người được sung túc, bình an.

 

Thầy múa lễ Kaing đang nhập đồng đạp tắt ngọn lửa hồng để xua tan nắng nóng mùa khô hạn
cầu cho mưa thuận gió hòa.