ĐẶNG NGỌC HÙNG
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
Có những lúc tôi tự hỏi mình đã đọc Konstantin Georgiyevich Pauxtovxki bao nhiêu lần rồi. Chưa bao giờ tôi trả lời được câu hỏi này. Đơn giản là tôi không thể nhớ nổi. Đơn giản là, có những tác phẩm của ông, dù đọc đến lần thứ mấy, tôi vẫn có cảm giác như “phải lòng” nó lần đầu.
Có những cái, nếu nhìn từ bên ngoài, ta có cảm giác chúng đẹp lấp lánh nhưng lặn vào nó, sống với nó thì ta mới vỡ lẽ, vỡ mộng: Đó là cái lung linh của vàng mã trang kim. Truyện ngắn của Pauxtovxki thì không như vậy. Chúng như tơ nhện, như sương mai run rẩy, chúng hoàn toàn có thật, chúng vẫn ở đó dù mặt trời có lên cao mấy chăng nữa. Chúng bắt chúng ta đón nhận chúng bằng một thứ siêu cảm giác. Chúng ở quanh ta, ở trong ta từ đời thuở nào rồi nhưng chúng ta không thể nắm được chúng. Cứ mỗi khi không viết được gì, tôi lại đọc Pauxtovxki để vừa dưỡng tâm, vừa tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao mình không viết được.
Tôi nhớ truyện ngắn Bình minh mưa không phải từ đoạn mở đầu mà từ chi tiết thiếu tá Cuzmin lay người đánh xe ngựa với câu nói: “Ông ngủ quên để xe đi qua thiên đàng mất rồi”. Xe chạy. Đêm. Mưa. Tiếng chó sủa xa. Cuzmin phải đến một ngôi nhà bên kia đồi để trao cho vợ của Basilov một lá thư. Cuzmin rất vội vì con tàu mà anh đi nhờ chỉ có ba tiếng đồng hồ là rời bến. Châm một điếu thuốc và ngả người vào trong xe, Cuzmin nghĩ “Giá mình cứ ở đây cho đến hết phép”. Câu chuyện trở lại với Basilov, người cùng nằm viện với Cuzmin. Pauxtovxki thường bỏ lửng như vậy. Cao lớn, lắm lời, thích tán dóc, hay giễu cợt, trước chiến tranh từng giúp việc cho đạo diễn điện ảnh, Basilov cũng ưa cạnh khóe, xỏ xiên người khác một cách khắt khe. Ấy vậy mà khi đưa thư nhờ Cuzmin chuyển giùm đến vợ mình, Basilov lộ vẻ bối rối, trằn trọc suốt đêm và thậm chí “khụt khịt mũi”. Đến khi nói chuyện với Cuzmin, Basilov nói anh ta ghen với Cuzmin. Tại sao lại ghen với một người xa lạ? Cuzmin không hiểu, người đọc có lẽ cũng chưa thể hiểu. Pauxtovxki thường bỏ lửng như vậy. Lạ nữa, sau khi nói chuyện với Basilov, Cuzmin lại thấy ghen với Basilov. Ngay liền đó, Cuzmin tự chữa lại là “thấy tiếc” vì “đã bốn mươi nhưng chưa bao giờ có được một tình yêu như Basilov”.
Tỉnh lỵ tăm tối trong đêm mưa. Ngồi trên xe ngựa, Cuzmin nghĩ về những ngày đã qua của đời mình. Xe qua bên kia đồi, cuối cùng cũng đến nơi. Cuzmin được bà giúp việc mời vào nhà. Ngôi nhà cũ kỹ “chứng tỏ một cuộc sống dài và bình thường”. Nhưng Cuzmin lại nghĩ giá mình được “ở lại đây” và “sống một cuộc sống không vội vã”. Một bó hoa đồng nội mới hái. Một chiếc kéo. Tập thơ của Block. Chiếc mũ. Cây dương cầm. Chiếc đồng hồ con, chạy rất êm. Và mùi nước hoa “buồn”. Sao nước hoa lại buồn? Pauxtovxki lại bỏ lửng. Trong khi chờ Olga, vợ của Basilov ra tiếp, một ý nghĩ đã đến với Cuzmin, đó là ý nghĩ “về sự qua đi không thể nào lấy lại mỗi khoảnh khắc nhỏ nhất của thời gian (…), dằn vặt con người thế kỷ này qua thế kỷ khác”.
Olga xuất hiện, cám ơn Cuzmin, cầm lấy thư nhưng không đọc mà để lên cây dương cầm. Họ nói chuyện rất ít. Olga mời Cuzmin uống chè và bảo anh đừng đi vội vì ở đây nghe rõ tiếng còi tàu thủy, và rằng tàu chỉ chạy được trước khi trời sáng. Cuzmin nghĩ mình đã đoán đúng vì Olga không hỏi gì về chồng.
Họ tiếp tục nói chuyện, vẫn nói ít, có lúc phải hỏi lại cho rõ, chẳng hạn Olga hỏi “cái gì tốt?”, thì Cuzmin trả lời rằng “Đó là một câu chuyện đặc biệt. Tất cả những gì ta yêu mến thì ta lại ít gặp (…) Mọi điều tốt lành hầu như bao giờ cũng chỉ đi lướt bên ta”. Olga nói rằng chị không hiểu lắm và Cuzmin phải nói lại. Tôi xin chép nguyên văn đoạn “thơ văn xuôi” này: “Chắc là chuyện đó cũng xảy ra cả với chị. Từ trong cửa sổ toa tàu, chị bất thần trông thấy một cánh rừng bạch dương thưa thớt với một lưới mạng nhện mùa thu ánh lên trong nắng và thế là chị muốn nhảy ngay ra giữa lúc tàu đang chạy để được ở lại cánh rừng ấy. Nhưng con tàu cứ đi qua. Chị nhoài người ra cửa sổ và nhìn lại những cánh rừng, những bãi cỏ rộng, những con ngựa, những nẻo đường đang vùn vụt chạy về phía sau và chị nghe thấy một tiếng reng mơ hồ. Vật gì kêu, chị không biết. Có thể là rừng hay không khí, hay tiếng rít của những dây điện thoại. Mà cũng có thể là tiếng reo của những thanh ray khi tàu chạy. Cái đó chỉ ánh lên trong khoảnh khắc nhưng ta chờ mãi suốt đời”.
Đây rồi, tôi nghĩ, cái cảm giác mà Cuzmin cố gắng lắm mới nói rành rọt cho Olga hiểu chính bút pháp của Pauxtovxki. Ông cứ buông như vậy để người đọc bắt được đến đâu thì bắt. Chẳng hạn như trong truyện ngắn Tuyết, trung úy Nicolai Potapov về phép thăm cha chỉ với 24 giờ đồng hồ. Khi xuống ga, anh được ông trưởng ga là chỗ quen biết báo rằng cha của anh đã qua đời và hiện một nữ ca sĩ người Moskva dắt đứa con gái tản cư về đang ở nhà của anh. Đó là Tatiana, người đã kết thúc một cuộc hôn nhân không toại nguyện. Nicolai vào nhà, xúc động đến nghẹn ngào. Anh ra thăm mộ cha. Đêm đó, Nicolai không tài nào ngủ được vì sợ nhỡ tàu, anh nằm nghe tiếng tích tắc của đồng hồ, tiếng chân con mèo. Rồi cũng đến giờ Tatiana tiễn Nicolai ra ga. Mấy hôm sau, Tatiana nhận được một bức thư. Từ Nicolai. Trong thư, anh viết rằng “Tôi nhớ chúng ta đã gặp nhau ở đâu”. Nicolai viết anh gặp Tatiana ở Crưm năm hăm bảy, mùa thu, công viên Lidavia với những cây tiêu huyền cổ thụ. Tatiana mười sáu tuổi ngồi đọc sách. Lúc ấy Nicolai nghĩ anh có thể yêu cô gái ấy đến quên cả thân mình. Anh nói số phận đã thương anh và cho anh gặp lại Tatiana bây giờ: “Nếu mọi việc ổn thỏa và em cần đến cuộc đời tôi, thì tất nhiên nó sẽ là của em”. Đọc thư xong, Tatiana thốt lên rằng cô chưa ở Crưm bao giờ và cô cũng nghĩ: “Nhưng lúc này cái đó có gì là quan trọng?”. Đó là tài năng của Pauxtovxki.
Trở lại với Bình minh mưa, Olga đưa Cuzmin ra bến tàu bằng đường tắt. Bờ sông dựng đứng, Olga lưu ý Cuzmin những chỗ thang bị mục, đưa tay cho anh. Cuzmin thấy tim mình se lại khi nghĩ mình sẽ phải chia tay người thiếu phụ này, một người “không quen biết nhưng lại gần gũi biết bao”. Đây là câu của ai, của Olga hay của Cuzmin: “Có lẽ nào giờ đây, trong phút này thôi, tất cả sẽ đi vào dĩ vãng và sẽ trở thành một trong những kỷ niệm xót xa trong cả đời nàng và trong cả đời chàng”? Rõ ràng, nó là của người trần thuật, nhưng tâm trạng là của Cuzmin, một kiểu lời mà thi pháp học gọi là lời nửa trực tiếp.
Olga nói một câu gì đó mà Cuzmin nghe không rõ. Nhưng con tàu dưới sông đã gầm lên, than thở. Bình minh ẩm ướt. Olga vẫn đứng đó nhưng không vẫy tay đáp lại cái tay đang vẫy của Cuzmin. Vậy là, Nicolai và Tatiana, Olga và Cuzmin cách nhau bởi một “bình minh mưa”. Thời gian trần thuật là 1945 nhưng thời gian của chuyện là trước đó, tức lúc còn Thế chiến hai, khi cả thế giới đang gồng mình chống Phát xít, nhưng cả Bình minh mưa và Tuyết đều không có tiếng súng. Còn nhớ, khi đưa thư cho Cuzmin, Basilov có nói mấy câu rất Pauxtovxki: “Nàng không phải là vợ tôi. Nàng là tất cả. Tất cả cuộc đời tôi”.
Nhân vật của Pauxtovxki cứ cách nhau một “bình minh mưa” như thế. Để thế giới luôn là một cuộc kiếm tìm. Tìm mình. Tìm người. Trong một vẻ đẹp tráng lệ đầy bí ẩn của tâm hồn con người. Nếu vượt qua cái “bình minh mưa” ấy, thế giới sẽ tan vỡ, trần trụi, giống như trong kiệt tác Tối ba mươi của Thạch Lam. Đêm ba mươi, cái lạnh thấm vào hồn hai cô kỹ nữ không còn chỗ dung thân là Liên và Huệ. Tết đến, người ta chúc nhau những điều tốt lành. Trong căn phòng tiếp khách bẩn thỉu, người bồi săm, trước lúc về nhà với vợ con, quay lại với hai cô gái: “À, chút nữa quên, tôi xin chúc mừng trước hai cô nhé !”. Với hai cô gái làm nghề bán thân, ông ta chúc gì? Câu nói của người bồi săm đứt quãng: “Chúc hai cô sang năm mới được…được…”. Sự đứt quãng này không phải vì lạnh. Sự ấp úng ấy của người bồi, theo tôi, là một bằng chứng về nhân tính.
Cũng có trường hợp người ta “bắt” được hạnh phúc nhưng vẫn theo cái cách “bình minh mưa” của Pauxtovxki. Đó là Petrov và Elena Petrovna trong tác phẩm Cầu vồng trắng. Nếu Olga trong Bình minh mưa là một tiếng reng vụt qua để Cuzmin “chờ mãi suốt đời” thì Elena Petrovna là một quà tặng bất ngờ của số phận dành cho anh họa sĩ thương binh Petrov. Không phải là tình yêu sét đánh, cũng không phải vì một sự câu thúc nào, nhưng chắc sẽ là một tình yêu, một cuộc hôn nhân “về lâu về dài” sau những thác ghềnh của hoàn cảnh chiến tranh. Câu chuyện đẹp như một ảo ảnh và thực như chính cuộc đời này.
Văn Pauxtovxki thường là một cái gì đó đã được nói hết bằng cách nói “động hờ sẽ tiêu”. Đó là văn học đích thực. Viết được như vậy chỉ có thể là văn hào. Đến đây, tự nhiên tôi nghĩ chúng ta có thể nói về Pauxtovxki bằng cái câu mà Igheman từng nói về văn hào Andersen trong một truyện ngắn của chính Pauxtovxki, rằng: “trong bất cứ cống rãnh nào cũng tìm ra được ngọc trai”.