NGUYỄN DUY
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn

17/04/2025 00:00
2325

NGUYỄN LÂM CÚC


Đang mùa trăng tháng Ba, trời trong veo, sao lấp lánh như kim cương nhấp nháy giữa khuôn ngực mỹ miều của thiên hà. Gió như nhà giàu vung tiền qua cửa sổ…Chỉ là không một ai ngắm trăng, hay ngửa cổ lên trời khen lấy lệ một câu đêm nay đẹp quá.

   Chung quanh nơi tôi đang sống, với bán kính hai trăm mét, quay đủ một vòng tròn thì có đến năm quán cà phê. Quán nào cũng rộng. Quán nào cũng đầy những dãy bàn ở ngoài trời. Có quán còn có mặt quay ra chỗ trống trải. Những đêm như đêm nay, quán nào cũng đông. Phải rồi, trời trong, trăng mật mỡ, óng chuốt không  hóng gió buôn chuyện thì quả là tiếc. Đó là nhận định sai lầm. Khách trẻ có, đã trung niên hay bạc trắng mái đầu đều có, nhưng họ tìm quán mà ngồi vì WiFi. Ngồi đôi cũng mỗi người một điện thoại, một thế giới. Ngồi đơn lẻ lại càng chìm sâu vào đâu đó bất tận trong chiếc màn hình nhỏ nhoi… Hiện tại. Thực tại với người trong cảnh bỗng tách rời. Một thế giới thực mà không hề thực.

   “Bao giờ cho tới mùa thu
   
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
   
bao giờ cho tới tháng năm
   
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”.
  
  Thơ Nguyễn Duy.

    Đó là một khổ trong bài thơ  Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta xưa, một bài thơ đẹp như châu, như ngọc của nhà thơ Nguyễn Duy. Bài thơ được viết năm 1986…Đây là năm được cho là cuối cùng của thời kỳ bao cấp, tem phiếu. Cũng là năm tiền đề để năm sau Luật đất đai năm 1987 ra đời. Trong Luật đất đai năm 1987, nghiêm cấm việc mua bán đất, cho nên…Nơi nơi về đất, nhất là ở thôn quê sân nhà nào cũng rộng, lòng ai cũng thanh bình, chiếu ngắm trăng nào cũng đầy ắp thanh tao, viên mãn một niềm vui an yên…

   Tháng Năm là mùa Hạ ở phương Bắc, là tháng đầu mưa ở miền Nam. Tháng này, trăng còn sáng. Những cơn mưa đầu mùa khiến vầng trăng son trẻ hẳn ra, chiếu ánh sáng thanh bình, mát rười rượi trong sân nhà. Quê nhà của nhà thơ Nguyễn Duy ở Thanh Hóa. Tháng Năm ở Thanh Hóa cũng bắt đầu có những cơn mưa. Sau chiến tranh, một đêm trăng cùng cả nhà với để tận hưởng đoàn viên…Là một hạnh phúc quá to lớn.

   Nhưng vào năm 1986, lúc bài thơ ra đời, mẹ nhà thơ đã ở Cõi Niết Bàn rồi. Trên bàn thờ đang thơm hương hoa huệ và nhiều chân nhang lấm láp:

   “Bần thần hương huệ thơm đêm
   
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
   
chân nhang lấm láp tro tàn
   
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”.
Thơ Nguyễn Duy.

   Niết Bàn ở đâu? Ở trong kinh Phật. Ở một cõi ước mong. Ở giữa tâm tư con người. Ở…nơi Vĩnh Hằng.  Tại sao nói câu ở trong kinh Phật đầu tiên, vì kinh Phật có quyển chép rằng: Niết-bàn có 2 loại, đó là:

   1- Hữu-dư Niết-bàn (Sa upādisesanibbāna) là Niết-bàn đối với bậc Thánh A-la-hán đã diệt tận được tất cả mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, còn gọi là kilesaparinibbāna: tất cả mọi phiền-não Niết-bàn, nhưng ngũ-uẩn vẫn còn tồn tại cho đến khi hết tuổi thọ.

   2- Vô-dư Niết-bàn (Anupādisesanibbāna) là Niết-bàn đối với bậc Thánh A-la-hán đã diệt tận được tất cả mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, đến lúc hết tuổi thọ, tịch diệt Niết-bàn, còn gọi là khandha- parinibbāna: ngũ-uẩn Niết-bàn nghĩa là ngũ-uẩn diệt rồi không còn ngũ-uẩn nào tái-sinh kiếp sau nữa, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài.

   Nghĩa là một nơi không còn đau khổ, âu lo nữa Ở nơi đó, cư dân Niết Bàn sống bất diệt với ung dung tự tại.

   Đường đến đó, theo nhà thơ Nguyễn Duy thì chỉ là “Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết Bàn”. 

   Mục Kiền Liên là một trong nhiều câu chuyện Pháp thoại của đạo Phật. Chuyện kể ngài Mục Kiền Liên một bậc chân tu đắc đạo nhìn thấu địa ngục và thấy mẹ do nhiều tội lỗi bị đọa trong ngọn lửa Âm Ty. Ngài ấy đã nương nhờ đạo hạnh của nhiều vị chân tu đắc đạo khác và của chính mình cứu được mẹ ra khỏi chốn ấy, về nơi tiêu diêu tự tại. Câu chuyện truyền cảm hứng đến nhiều người. 

   Nhà thơ Nguyễn Duy  đã tin rằng, mẹ của người, một người mẹ nhân từ, hiền đức, một người mẹ chân chất, hết mực chăm chỉ, không lý do gì lại không về Cõi Niết Bàn thanh tịnh.

   “Mẹ ta không có yếm đào
   
nón mê thay nón quai thao đội đầu
   
rối ren tay bí tay bầu
   
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

   Cái cò... sung chát đào chua...
   
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
   
ta đi trọn kiếp con người
   
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”.
Thơ Nguyễn Duy

   Nhà thơ Nguyễn Duy sinh năm 1948. Mẹ của ông chắc chắn ở trong số những bà mẹ  của nhà thơ Hữu Thỉnh:

   “Mẹ vẫn đong bữa ăn bằng chiếc lon nho nhỏ
   
Quá nửa những cánh đồng dành cho đứa con xa”

   Gia đình tôi “không có đứa con xa nào” như trong bài thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh, nhưng tôi đã chứng kiến những người  theo cách mạng, họ về trong đêm thu hoạch hết rẫy bắp, hay ruộng lúa rồi để lại mảnh giấy ghi, cách mạng sẽ trả đầy đủ khi cách mạng thành công…Chuyện xưa kể cho vui, chẳng ai còn nhớ nữa. Thế đủ may mắn lắm rồi. Vì biết bao gia đình mà tôi từng đứng ở nghĩa trang Trường Sơn, lòng quặn xiết khi nghĩ về các bậc cha mẹ của những anh chị nằm lại đây. Họ những người nằm nơi đó toàn ở tuổi hai mươi.  Nhà thơ Lê Bá Dương đã viết bằng tất cả tâm tư: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm”. Mỗi khi đến dòng Thạch Hãn…câu thơ đó vang lên nhức buốt.

   Nhiều người biết đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, một nhạc sĩ miền Nam với ca khúc nổi tiếng như bài hát Chiều Mưa Biên Giới, nhưng ít người nhớ, tác giả này có bài hát tên Chuyện Bà Mẹ Hai Con…Buồn thiệt buồn. 

   Những người con nằm lại, những người còn không về…Mẹ trải chiếu suốt mọi đêm Rằm ngóng mong.

   Nhạc sĩ Phạm Duy cũng có “ Bà Mẹ Quê”…Một bà mẹ chợ sớm đi chưa thấy.

   Khúc Hát Sông Quê của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, lời thơ Lê Huy Mậu, có bà mẹ quê với một xu bánh đa vừng con thơ mong ngóng

   

   Những Người mẹ như mẹ trong thơ Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, trong nhạc Nguyễn Văn Đông, Phạm Duy…cùng là những người mẹ ở trong một giai đoạn lịch sử của đất nước. Họ đều là những người đưa nôi, hát ru con dù bài hát ru đó là Dân Ca Nam Bộ, hay Quan Họ Bắc Ninh, hay Dân Ca xứ Nghệ…Thì vẫn là “Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn” cho các con của họ.

   “Mẹ ru cái lẽ ở đời
   
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
   
bà ru mẹ... mẹ ru con
   
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

   Nhìn về quê mẹ xa xăm
   
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
   
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
   
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương ...”
Thơ Nguyễn Duy

   Bây giờ, “miệng nhai cơm búng” đã “tuyệt chủng” cùng với lời ru và chiếc nôi rồi. (Không biết những vùng núi non, xa xôi hiểm trở có còn không) chứ một thị trấn nhỏ, nơi tôi đang ở, hơn mười năm nay chẳng hề nghe những bà mẹ trẻ hát ru nữa.

   

    Những cá nhân vĩ  đại dù là nhà khoa học, nhà kinh tế, hay chính khách đều sinh ra từ mẹ. Kẻ ác nhơn, từ bọn đi gây chiến giết người đến kẻ đầu độc thiên hạ để giàu, hay đi cướp của mưu vung tiền không đổ chút mồ hôi cũng do mẹ sinh ra. Nhưng những giọt nước mắt của người mẹ chỉ chính người mẹ mới biết nó có mùi vị gì…

   Trong văn thơ, nhạc hiện đại có Mẹ Suốt, Người Mẹ Bàn Cờ… Là những người mẹ chiến binh. Người mẹ hậu phương, trong thơ Hữu Thỉnh. Người mẹ nhai trầu trong nhạc Nguyễn Văn Đông. Người mẹ quê chợ búa lam lũ trong Bà mẹ quê Phạm Duy…Người mẹ bình thường, nhưng không kém cao cả là người “mẹ trải chiếu con nằm ngắm trăng” của Nguyễn Duy. Những giấc mơ bình dị, những người mẹ trải chiếu con nằm ngắm trăng cũng chính là những con người trải đường để các đấng nam nhi của họ đi khắp thiên hạ, nắm giữ thiên hạ, hoặc chết vì thiên hạ…Mấy ai chết vì mẹ?

   Tôi chắc chắn các bà mẹ không có một ai muốn con cái họ phải chết, đừng nói chi là chết vì chính họ. Tôi cũng là một người mẹ của ba nam nhi, nên tôi có thể ưỡn ngực ra để nói điều đó. Nhưng mong muốn được thấu hiểu. Mong muốn được sẻ chia. Mong muốn được yêu thương ấm áp, người mẹ nào cũng có. Những người mẹ đơn thân. Những người mẹ  gãy gánh. Những người mẹ điên điên dại dại lại càng vĩ đại. Những người mẹ cơm không đủ no, áo không đủ ấm lại càng nên trân trọng… Nhưng dù là mẹ cao sang quyền quí, hay mẹ hành khách, bán từng tấm vé số nuôi con…họ cũng đều là con người, họ cũng bi ai sầu não, cũng hớn hở mừng tươi…khi buồn hoặc khi vui. Tất cả họ đều mong sự thấu hiểu!

   Mùi vị cuộc sống, người mẹ thường nếm cay đắng nhiều hơn là ngọt ngào, vất vả đơn côi đồng hành từng ngày, từng giờ nhiều như núi như sông, còn nồng ấm, hạnh phúc đếm được, đong được. Người đi, nhất là con trai của mẹ có thể bay đến tận chân trời, có thể thắng thiên hạ…Mẹ phải luôn luôn chiến thắng chính mình. Trận chiến của mẹ…chỉ mẹ biết nhưng nó ác là liệt nhất của đời người, con người. Rất có thể, khi con trai đang ngồi cạnh mẹ, trước mặt mẹ, trận chiến ấy lại đang diễn ra giằng xé nhất, đau đớn nhất, thầm lặng như trăm vạn trận chiến khác. Rất có thể, ngay lúc ấy, mẹ chiến đấu để nước mắt không rơi, bàn tay níu lấy, nương nhờ con không vươn ra…Môi mẹ vẫn cười. Chân mẹ vẫn hùng hồn những bước xa rời con, để con có thể…cất cánh bay vút lên không chút vướng bận!

   Trên đời này không có ai sanh ra từ đá, trừ Tôn Ngộ Không. 

   Thánh hiền cũng từ  bụng mẹ chui ra, nhưng sách thánh hiền nhiều như thiên hà hằng đêm lấp lánh, chẳng mấy người nói rằng họ hiểu mẹ. Đừng nói chi là thấu hiểu.

   Những người con thành đạt, những người con thất bại, những người con hiếu thuận, những người con diễn vở tuồng hiếu thuận qua mắt người đời và thánh thần, có mấy người con hiểu được giấc mơ của mẹ là gì không? Mẹ đã nuôi nấng giấc mơ của mình hay tự tay xiết đến chết giấc mơ đó? Có phải, đời người mẹ chỉ cần cơm no, áo ấm là đủ hay không?

   Lòng mẹ đầy vết thương. Rạch ngang, rạch dọc, những vết thương không bao giờ lành sẹo đâu chỉ có đao kiếm súng đạn mới có thể gây ra mà còn có cả vết đâm từ yếu đuối, từ cả tin, từ chính lòng yêu thương đem lại nữa…

   Có câu nói “Mẹ là quê hương. Quê hương là mẹ”. Cũng có câu nói, câu thơ, “Quê hương là chùm khế ngọt. Cho con trèo hái mỗi ngày”. Chúng ta đã làm như thế thật. Trèo rồi hái. Trèo rồi hái trên quê hương của mẹ. Và vẫn đang, vẫn  còn …mai sau nữa…trèo hái, trèo rồi hái hăng say lắm. Than ôi! Có gì trên đời không bồi đắp, mà có thể còn????

   Cho nên, “Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết Bàn” là ước mơ không chỉ của riêng nhà thơ Nguyễn Duy, mà của cả tôi nữa. Tôi cũng chưa từng thấu hiểu được người sinh thành ra tôi. Và giờ cũng chỉ mong Người thiên thu không phiền, không não ở cõi Thiên Thai…

   

   Tạo Hóa từ khai phóng đã bày ra trò chơi “vừa trừ, vừa cộng” trên mỗi sinh linh. Con người tưng bừng chúc mừng tuổi thọ của nhau rồi âm thầm buồn bã vì tuổi đã chồng đã chất. Con người mưu cầu trường sinh bất tử, rồi ngày ngày ngồi giết thời gian. Con người đổ hết mưu mô toan tính, kể cả ác độc và sức khỏe ra kiếm tiền rồi sau cùng lại đổ hết tiền đi kiếm sức khỏe. Có buồn cười không chứ?

   Tạo Hóa từ trên cao nở nụ cười chế nhạo thiên thu…Vì cộng và trừ vì trừ và cộng…Vì chúng ta bỏ quên rất nhiều điều hiện hữu, giản dị ngay giữa lòng mình, nhà mình, dưới mái hiên của mình, mãi chạy theo những tận đẩu tận đâu. Cả mẹ, chúng ta cũng hằng quên lãng cho đến khi sực nhớ…mới vội vội vàng vàng thăm hỏi qua loa. Và đến một ngày mượn hương khói để nhớ đến Người…cho phôi pha.

   Năm 1986 đã xa rồi. Ngày hôm qua cũng đã vụt mất. 

   Lời ru vẫn còn, nhưng chẳng  mấy ai trong lớp trẻ muốn hát nữa. Vầng trăng vẫn sáng mỗi rằm, nhưng giờ giới trẻ thích “tự trải chiếu giữa Iphone ngắm trăng” … hơn là ngắm trăng giữa mênh mông.  Nhưng chắc chắn một điều, lòng của người mẹ theo con, dù không bằng lời ru nữa, thì suốt đời con vẫn không đi hết tình thương bao la của mẹ.

   Ngày mai giới trẻ hát điệu gì…mặc kệ ngày mai. Nhưng hôm nay, tôi cảm tạ những người hát Văn đã hát bằng tấm lòng bài thơ “NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA” của nhà thơ Nguyễn Duy.      


Trại sáng tác Đà Lạt 2025