NGUYỄN THÀNH TÀI
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
✿
Phong trào sáng tác thơ văn Bình Thuận những năm đầu thế kỷ XX phát triển mạnh. Bên cạnh các tác phẩm của các cụ Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang…thì xuất hiện những tác phẩm yêu nước mang tính bình dân do nhân dân vùng đất cực Nam Trung bộ nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa sáng tác. Một trong số đó, phải kể đến tập thơ “Đi kinh” của người dân đảo Phú Quý năm 1901.
1. Địa chí Bình Thuận (Sở VHTT xb năm 2007, tr.649) có nêu nguyên nhân ra đời tập thơ “Đi kinh” xuất phát từ sự việc Pháp bắt thanh niên đảo Phú Quý chở vào đất liền làm phu dịch. Vào giờ Thìn (từ 7h - 9h sáng), ngày 26/3/1901 (Tân Sửu), năm Thành Thái thứ 13, người dân Phú Quý thấy tàu chở Công sứ Pháp tỉnh Bình Thuận từ Phan Thiết ra ghé đảo để quan lớn thăm hỏi dân tình. Đến ngày 2/4/1901, khi quay trở về đất liền, trên tàu bắt theo 50 thanh niên vào Phan Thiết đi phu làm đường, mặc dù những thanh niên này không phạm tội gì, cũng như đã đóng thuế thân cho triều Nguyễn. Đang sống yên ổn, thấy người thân bị bắt đưa đi biệt tăm, e rằng không có ngày về, dân làng xôn xao, lo sợ. Thấy tai ương tự nhiên ập đến, các vị chức sắc họp bàn tìm phương cách kêu xin triều đình soi xét can thiệp dừng lại việc thực dân Pháp bắt thanh niên làm phu và xin giảm thuế cho dân đảo vốn đã nghèo khổ. Cụ Hương thân Bùi Quang Diêu (Deo), được tín nhiệm cử làm trưởng đoàn. Vào giờ Dần (từ 3h - 5h sáng), ngày 3/6/1901, đoàn người rời đảo Phú Quý bằng thuyền buồm ba cánh trực chỉ ra Huế. Chuyến đi mất 2 tháng trời được toại nguyện, thanh niên trên đảo được thả về. Cụ Bùi Quang Diêu sáng tác tập thơ “Đi kinh” để thuật lại chuyến hải trình gian nan đó.
2. Theo cụ Lê Hữu Lễ(1), cụ Hương thân Bùi Quang Diêu sinh năm 1861 tại làng Phú Mỹ, xã Ngũ Phụng. Sau chuyến hải trình ra kinh đô Huế về, được thăng chức Chánh tổng. Cụ qua đời năm 1913. Tập thơ được lưu truyền đến hậu thế, được cháu nội cụ là ông Bùi Uông gìn giữ làm gia bảo. Tập thơ gồm 1.282 câu lục bát, 8.974 chữ Nôm, bản dịch chữ quốc ngữ do cụ Trần Đức Dự ở Mũi Né, các cụ Nguyễn Đình Diệm, Hoàng Văn Suất nhuận sắc, cụ Trần Nhuận Đức chú thích.
Quá trình khảo sát tìm hiểu được biết tập thơ còn lưu giữ đến nay từ nhiều nguồn khác nhau, dị bản khá nhiều. Mỗi dị bản khác nhau số lượng câu, từ ngữ, có thể do lỗi đánh máy, phiên âm Nôm sang quốc ngữ, hoặc trí nhớ của người thuật lại lời thơ. Chúng tôi tiếp cận tập thơ “Đi kinh” từ bản thảo Địa chí đảo Phú Quý (bản đánh máy được hoàn thành năm 1970 chưa xuất bản), bài nghiên cứu (in năm 2009) cùng của cụ Lê Hữu Lễ ở Phan Thiết. Đồng thời, chúng tôi sưu tầm được 1 bản đánh máy trên giấy pơ luya (cuối tập đánh máy giấy pơ luya đề năm 1990, sao y bản chính từ Hòn - tức đảo Phú Quý). Tập thơ thì dài, khuôn khổ bài viết thì có hạn, vì vậy chúng tôi không dẫn hết hơn 1.200 câu lục bát ra đây, mà chỉ diễn giải lộ trình đoàn “khiếu kiện” do cụ Bùi Quang Diêu dẫn đầu đi thuyền vượt biển ra kinh đô Huế đòi công lý.
3. Bắt đầu chuyến đi, đoàn người làm lễ cúng thần thành hoàng bổn cảnh trong làng rồi lên đường. Thuyền từ Phú Quý chạy vào La Gàn (Tuy Phong) rồi ghé vào Thương Chánh(2) Phan Thiết xin quan lớn cho giấy phép chạy tàu theo luật định lúc bấy giờ. Nhìn con nước, dòng chảy, tốc độ hướng gió thổi trong năm mà tuyến đường biển từ Phú Quý - Phan Thiết hoặc ngược lại từ xưa đến nay đều giống nhau. Tàu, thuyền từ Phan Thiết muốn ra Phú Quý đều phải men theo bờ biển đến mũi La Gàn (Tuy Phong) rồi mới nhắm hướng Đông Nam trực chỉ. Sau khi có giấy tờ, mọi người trong đoàn “khiếu kiện” than thở lo cho tháng ngày sắp tới. Cụ Bùi Quang Diêu bảo mọi người kiếm thức ăn, mua mắm, gạo. Đường xa ngàn dặm, cầu trời thuận buồm xuôi gió, công việc nhanh chóng xong để về nhà.
Thuyền chạy ra đến cửa sông Dinh (Phan Rang), xuôi lên thêm vài dặm thì cập bờ bẻ củi mang theo để nấu ăn. Thuyền tiếp tục hành trình nhắm hướng cửa Bé (một làng chài nhỏ nằm trên nhánh phía Nam sông Cái - Nha Trang chảy ra biển, vẫn còn đến nay) lướt sóng. Ngày 13/6/1901, đến cửa Bé, thuyền ghé vào mua thêm gạo và hỏi thăm người dân ở đây, tìm mướn một lái phụ theo thuyền. Gặp dịp may, tại quán nước ở cửa Bé, cụ Bùi Quang Diêu gặp một người đi ghe quê Nước Cạn (một làng chài nhỏ phía bắc Bình Định) nói cho biết về hướng gió Nam thổi tháng 3 - tháng 4 trên biển. Trò chuyện hồi lâu, người đi ghe quê Nước Cạn nhận lời làm lái phụ cho đoàn. Trời thổi gió nên đoàn “khiếu kiện” lên thuyền kéo neo từ giã Nha Trang thẳng đường ra kinh.
Thủy trình từ Nha Trang ra Huế, núi non cập sát biển, qua hết mũi đá này đến mũi đá khác hiện ra. Chạy mải miết đến cửa Nước Cạn, thuyền ghé vào để ông lái phụ về nhà thăm vợ con một chút rồi quay lại, mọi người trên thuyền lấy thêm nước ngọt dự trữ. Thuyền tiếp tục đè sóng nhắm hướng kinh đô. Tới núi Rồng (nay là mũi Rồng, Phù Mỹ, Bình Định) trời muốn làm giông, kéo mây đen kịt trên biển. Khi đi ngang cửa Tân Quang (nay là cửa biển Tam Quan, phường Tam Quan Bắc, Hoài Nhơn, Bình Định). Cụ Bùi Quang Diêu chợt nhớ về quê nhà Phú Quý, tổ tiên cụ gốc gác ở nơi này, làm nghề đi biển, cũng do mưa gió bão tố đẩy thuyền phiêu dạt chỗ này, nơi khác, lênh đênh trên biển để rồi cập đảo Phú Quý sinh sống từ đó đến sau này.
Ngày 20/6/1901, thuyền đến kinh đô Huế, nhắm cửa Thuận (tức cửa biển Thuận An) đi vào, ghé tòa Thương Chánh (Huế) trình giấy tờ xin thông quan, rồi tìm chỗ nghỉ ngơi. Đoàn người tìm quán bước vào, gặp ông chủ quán hỏi thăm cách nộp đơn lên quan khiếu nại. Chủ quán nghe cụ Bùi Quang Diêu kể về nỗi khổ của người dân quê mình, đã có thuế thân, thanh niên còn bị bắt đi phu làm đường, nên vượt dặm đường xa ra kinh khiếu kiện. Nghe xong, chủ quán thương cảm chỉ đường. Đoàn người theo con đường đất đi sâu vào trong kia đến chợ Đông Ba, hỏi thăm người dân nơi vua, quan ở, làm việc sát bên cầu Trường Tiền mới xây.
Ngày 21/6/1901, theo hướng dẫn của ông chủ quán, đoàn “khiếu kiện” lên đường, đi mãi vào sâu trong kinh thành. Trời nắng, mỏi chân, người mệt, mọi người thấy gốc cây bên đường liền dừng chân lại nghỉ. Đang nghỉ mệt thì gặp người hỏi han, rồi chỉ đường đến chợ Đông Ba, tìm cửa Đông Nam vào Thành ngoại trình việc quan. Cụ Bùi Quang Diêu tới nơi cần đến, thấy lầu quan văn mà cả Nam Kỳ lục tỉnh cũng không bằng, thì đánh bạo bước vào, trong đó nhiều người lăng xăng ra vào, đi lại. Một lính gác thấy vậy liền bước lại hỏi người ở đâu đến, vào Thành ngoại có việc gì. Cụ Diêu liền bày tỏ mọi việc, hỏi thăm nhờ chỉ đến quan lớn để xin cứu giúp. Người lính chỉ nhà một quan làm việc ở đội Quản hầu kinh thành tên là Nguyễn Dụng (còn gọi là Đội Ba) để cậy nhờ lo cho.
Cụ Bùi Quang Diêu tìm được nhà quan Nguyễn Dụng, có ao hồ, trồng cây thả cá, hòn non bộ rất đẹp. Thầy đội Nguyễn Dụng tiếp khách với thái độ dè dặt hỏi: Phú Quý là ở tỉnh nào? Cớ sự làm sao lại tìm đến đây? Nếu làng có việc thì vào triều bẩm tấu chứ tìm đến đây làm gì? Cụ Diêu thưa lại, từ Bình Thuận mới ra đây hôm qua, được người thương tình mách bảo, hỏi thăm nhà đến gặp thầy Đội Ba nhờ cậy giúp đỡ việc dân cực khổ lắm.
Hải trình từ Bình Thuận ra Huế gian nan bao nhiêu, thì hành trình đi tìm công lý tại kinh đô Huế vất vả bấy nhiêu. Theo lời thầy Đội Ba bày vẽ, muốn lo việc quan thì chuẩn bị 100 đồng bạc làm lễ dâng các quan trong viện Cơ Mật, tìm người làm đơn sẵn rồi quỳ chờ các quan cho chữ thì mọi việc xong. Nhưng mọi việc không đơn giản vậy.
Trước tiên, cụ Diêu đi tìm đến nhà quan Tham tri Hình Bộ(3) xin thảo lá đơn mất 30 đồng bạc, cùng với mâm lễ vật mua tại chợ Dương Xuân trong Thành ngoại (thuộc kinh thành Huế hiện nay): một kg trà, trái cây, trầu cau, cá khô, mực khô. Quan Tham nghị nhận tiền, lễ vật, thảo đơn đưa lại cụ Diêu rồi phán rằng cần phải gặp Quận công(4) mới xong việc.
Đoàn người lướt thướt trong cơn mưa xứ Huế tìm hỏi thăm nhà Quận công, xin vào dâng đơn bẩm tấu. Quận công sai đội Quản hầu lấy đơn dâng lên xem xong, phán rằng lo lễ vật đi hầu các quan trong Cơ Mật viện cho yên; rồi làm đơn chữ quốc ngữ sang tòa Khâm sứ cầu xin các quan Pháp.
Tiếp đó, cụ Diêu tới quan Quận võ dâng đơn xin cứu giúp. Quận võ sai đội hầu mang bút phê vào đơn “việc lính tao cho” (nghĩa là sẽ tha không bắt thanh niên Phú Quý đi lính cho triều đình), rồi bảo mang đơn đến quan Thượng thư Hình Bộ(5). Còn việc bắt người đi phu dịch, làm cu li (coolie) thì phải qua tòa Khâm sứ gặp quan Pháp.
Cụ Diêu sai người trong đoàn tên là Lý Phan mua một kg trà làm lễ vật dâng quan Thượng thư Hình Bộ. Quan Thượng thư nghe xong phán, ra kinh đô làm gì cho mắc công, tỉnh nào cũng bắt người đi làm phu dịch, đi lính huống chi cái làng Phú Quý. Khi xem qua đơn thì thấy các quan đã ghi vào bằng lòng tha bắt lính, quan Thượng thư phê vào đơn vài chữ, trả lại lễ vật không nhận, rồi cho lui.
Các cửa quan triều đình cần đi đã đi hết rồi, chỉ còn tòa Khâm sứ Trung kỳ do quan Pháp đứng đầu. Cụ Diêu thuê người viết đơn chữ quốc ngữ 10 đồng bạc rồi tới tòa Khâm sứ, quỳ gối dâng đơn tấu trình. Quan Pháp xem đơn hỏi hòn Lao ở chỗ nào chỉ trên họa đồ. Khi xem qua, quan Pháp bảo đó là Lao Thu, chỗ này chỉ có tăng thuế, không ai ra lệnh bắt người, nay lại bắt cu li, làm như vậy ai hay biết được, nếu như đã bắt mấy người thì sẽ tha, đi ra đây đã khổ rồi giờ về chờ tin, ở kinh đô lâu ngày tốn ăn (chứng tỏ một điều là Công sứ Pháp ở Bình Thuận tự tiện bắt người chứ không phải theo lệnh từ trên -Tg).
Lời thỉnh nguyện đã được giải quyết, triều đình tha không bắt thanh niên Phú Quý đi lính, Khâm sứ Pháp sẽ gửi giấy vào lệnh cho Công sứ Bình Thuận thả 50 thanh niên bị bắt đi phu. Cụ Bùi Quang Diêu có ý ở lại đợi giấy của quan Pháp rồi về, nhưng thầy Đội Ba bảo yên tâm, về trong tỉnh chờ giấy. Đoàn “khiếu kiện” đi chợ Đông Ba mua sắm đồ đạc mang về quê, thăm thú các nơi, cầu Đông Ba, Gia Hội, chùa Diệu Đế một lầu bốn chuông, ngựa xe tấp nập. Buổi sáng ngày lên đường, cụ Diêu ra chợ Bao Vinh mua sắm đồ lễ cúng tạ thần linh, cá Ông, xin cho được thuận buồm xuôi gió, chờ nước ròng thuyền ra cửa biển giương buồm xuôi phương Nam diệu vợi.
4. Qua khảo sát hơn 1.200 câu lục bát, chúng tôi nhận thấy tập thơ “Đi kinh” của cụ Bùi Quang Diêu như một “Thượng kinh ký sự”(6) bằng thơ của người dân Phú Quý đầu thế kỷ XX. Tập thơ không những có giá trị về mặt tinh thần, mà còn mang giá trị là cuốn cẩm nang đi biển, đem đến cho người đọc biết thêm về nhiều hình ảnh hiện thực, sống động trong chuyến hải trình từ Phú Quý ra Huế, các địa danh, cảng biển, cửa biển, mũi, bãi, rạn đá ngầm…, ngoài ra đó là nỗi khổ cực trăm bề của dân đen khi có việc cậy nhờ đến cửa quan dưới chế độ thực dân, phong kiến đầu thế kỷ XX tại Việt Nam.
________
Chú thích
(1) Lê Hữu Lễ, Đảo Phú Quý và tập thơ Đi kinh, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, số 4 (75).2009, tr.111-122
(2) Thương chánh hay thương chính là cơ quan phụ trách thu thuế hàng hóa dưới thời Pháp thuộc; còn dùng để chỉ cơ quan có chức hải quan, cho phép tàu thuyền thông thương. Tại Phan Thiết, Pháp đặt cơ quan thương chánh tại cuối đường Võ Thị Sáu hiện nay, nên tên gọi đó dần trở thành danh từ riêng để chỉ địa danh như: bãi biển Thương Chánh, công viên Thương Chánh…
(3) Hai câu thơ viết: “Quan Tham mới hỏi đi mô/ Nghênh ngang các vật làm đồ lễ nghi”. Chúng tôi luận ra rằng, cụ Diêu gặp quan Tham tri bộ Hình (nơi giải quyết kiện tụng thời phong kiến, thi hành pháp luật xét xử), là chức quan cấp phó, tương đương Thứ trưởng hiện nay.
(4) Tước quan triều Nguyễn phong tặng cho thân vương. Thơ cụ Bùi Quang Diêu viết không nêu rõ tên Quận công nào.
(5) Hình Bộ Thượng thư là chức quan đứng đầu Bộ Hình, ngày nay như là Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao.
(6) Thượng kinh ký sự là tập ký sự bằng chữ Hán của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, là thiên phóng sự độc đáo của văn học Việt xưa viết về người thật, việc thật với cách hành văn giản dị, tinh tế và sinh động.