Văn hóa mẫu hệ Chăm và sự phân công lao động trong gia đình

18/04/2025 00:00
2411

VĂN THỊ CHIÊM


Tục ngữ là kho tàng tri thức văn hóa và xã hội, được đúc kết qua nhiều thế hệ, mang tính ứng dụng cao trong đời sống cộng đồng. Đối với người Chăm, tục ngữ không chỉ đơn thuần là những câu nói được truyền miệng mà còn phản ánh cả một hệ thống giá trị về tri thức, đạo đức, và triết lý sống. Mặc dù số lượng tục ngữ Chăm không nhiều như các dân tộc khác, nhưng mỗi câu tục ngữ đều chứa đựng những bài học sâu sắc, từ cách ứng xử với thiên nhiên, xã hội, đến việc răn dạy thế hệ sau về ý thức cội nguồn và cách duy trì bản sắc dân tộc. Đồng thời, nó cũng thể hiện những khía cạnh độc đáo của một xã hội đa tôn giáo, chế độ mẫu hệ, của người Chăm.

   Bài viết này tập trung vào chủ đề mang tính độc đáo, và có thể nói chỉ có người Chăm có được: Đó là văn hóa mẫu hệ và sự phân công lao động giữa người nam với người nữ trong chế độ gia đình mẫu hệ Chăm. Với các dẫn chứng được trích từ công trình của nhà nghiên cứu Inrasara là Ca dao - tục ngữ - thành ngữ - câu đố Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2006.

   1. Văn hóa mẫu hệ

   Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Chăm là dân tộc có trình độ kinh tế - xã hội phát triển khá cao, nhưng còn lưu giữ rất đậm nét yếu tố mẫu hệ. Văn hóa mẫu hệ của dân tộc Chăm phản ánh một hệ thống tổ chức xã hội dựa trên vai trò trung tâm của người phụ nữ. Không chỉ được phản ánh trong sinh hoạt, lễ nghi cộng đồng, xã hội, gia đình mà còn được phản ánh trong tập tục cưới xin, tang ma, trong tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên và các thánh thần. 

   Trong hôn nhân, người con gái Chăm là người chủ động ngỏ lời và tổ chức lễ cưới, con gái đến tuổi trưởng thành thì cha mẹ phải đi hỏi chồng và cưới chồng về sinh sống bên nhà vợ và gia đình vợ là trung tâm của đời sống hôn nhân. Con cái sinh ra theo họ mẹ, có trách nhiệm nối dòng và thờ tổ tiên, và khi kết hôn được chia một phần tài sản của cha mẹ. Người phụ nữ Chăm có vai trò quan trọng trong việc quản lý gia đình và xã hội. Chính vì lẽ đó, với người Chăm, khi xảy ra các vấn đề đời sống - xã hội có tính chất mâu thuẫn, xung đột, thì luật tục theo chế độ mẫu hệ được ưu tiên xem xét trước hết, sau đó mới xem xét đến pháp luật thế tục.

   Văn hóa mẫu hệ ngoài việc phản ánh rõ trong gia đình, dòng họ Chăm, tác động mạnh mẽ đến tổ chức xã hội dựa trên dòng mẹ, các nghi lễ theo dòng mẹ cũng là yếu tố quan trọng cấu thành hệ thống nghi lễ phong tục tập quán người Chăm. 

   Người phụ nữ Chăm thường giữ vai trò quan trọng trong các nghi lễ tôn giáo, đặc biệt là các nghi lễ liên quan đến nữ thần Po Inư Nưgar. Người Chăm tôn xưng Po Inư Nưgar là “Thần Mẹ Xứ sở” người đã sáng lập dựng xây nên non sông Champa. Theo quan niệm của người Chăm, Po Inư Nưgar đã dạy cho người Chăm biết trồng lúa nước, làm thủy lợi, dệt vải, thỏa mãn lời cầu xin của kẻ hiếm muộn con cái. Nữ thần Po Inư Nưgar chính là một biểu tượng của quyền năng và sự sáng tạo. Hiện nay còn rất nhiều tháp, miếu thờ Bà, trong đó tháp Po Inư Nưgar ở Nha Trang (thường gọi là Tháp Bà) là nổi tiếng nhất.

   Trong xã hội truyền thống, mọi sinh hoạt gia đình, người phụ nữ Chăm giữ vai trò quan trọng trong hôn nhân, trong tang lễ, trong tế tự, trong vấn đề quản thủ tài sản lẫn con cái trong gia đình. 

   Văn hóa mẫu hệ của người Chăm mang đậm bản sắc và giá trị nhân văn. Nó không chỉ duy trì được sự bình đẳng, thể hiện sự tôn trọng đối với phụ nữ trong vai trò giữ gìn và phát triển gia đình, xã hội mà còn giúp bảo tồn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

   2. Sự phân công lao động giữa người nam với người nữ trong gia đình mẫu hệ Chăm

   Nhìn tổng thể, sinh hoạt mang tính đặc thù hơn cả của xã hội Chăm chính là chế độ gia đình mẫu hệ. Ở khía cạnh này, tục ngữ Chăm đã khắc họa nhiều nét tinh tế thú vị. Theo cách hiểu thông thường người ngoài hay nghĩ ở chế độ gia đình mẫu hệ, phụ nữ toàn quyền cai quản và chủ động, thực tế đã diễn ra rất khác.  

   “Adat drei kamei khik sang” 
   
“Phận người nữ giữ nhà”  (113).

   Còn cánh đàn ông, đâu là vai trò và vị thế của họ? Người Chăm phân công rất rõ ràng nhiệm vụ của hai giới trong gia đình lẫn ngoài xã hội.

   “Likei bơng mưsuh, kamei bơng mưnưk”
   
“Đàn ông đứng ở phần chiến đấu, đàn bà đứng ở phần sinh nở”  (117).

   Gánh phận sự chiến đấu, đàn ông xông pha và góp phần vào công tác quản lí xã hội; còn bổn phận của người nữ là chăm sóc con cái và quán xuyến việc nhà. Ngay trong các sinh hoạt phong tục tập quán, sự phân công này cũng khá rạch ròi. Như ở các nghi lễ Rija của người Chăm chẳng hạn:

   “Kamei thauk tapung đung bai – Likei ngap kajang lang ciew”
   
“Đàn bà thì cơm nước, nồi niêu – Đàn ông thì cất rạp, trải chiếu”  (159).

   Người Chăm có biểu tượng tâm linh là HOMKAR, ở biểu tượng đó có số 3 tượng trưng cho nữ và số 6 tượng trưng cho nam, cặp đôi khác là mặt trăng và mặt trời cũng nằm trong cách thức ấy. Nam nữ, đực cái luôn song hành và có mặt khắp sinh hoạt làng xóm Chăm. Ở Ninh Thuận có Mương đực và Mương cái, suốt các tỉnh miền Trung vẫn còn tồn tại nhiều Giếng vuông Chăm đa phần có cặp đôi: Giếng đực và Giếng cái. Điều này thể hiện rõ nét sự công bằng và hài hòa trong quan hệ giới trong tổ chức xã hội Chăm khi ấy, và có thể nói vẫn tồn tại cho đến hôm nay.

   Cặp đôi nam nữ, đực cái còn biểu hiện rõ hơn trong đời sống tôn giáo. Cộng đồng Chăm có hai tôn giáo chính là Bàlamôn và Bàni, hay còn gọi là Ahiêr Awal, cũng là cặp đực cái, nam nữ. Awal Bàni là nữ, Ahiêr Bàlamôn là nam, theo đó, hai tôn giáo không thể tách rời mà cùng đồng hành song song trong sinh hoạt chung hay trong lễ nghi tín ngưỡng. Mỗi mùa Ramưwan của bà con bên Bàni, người Chăm Bàlamôn cũng đội bánh trái vào Sang Mưgik để cúng dường, và ngược lại sau lễ Rija Nưgar đầu năm Chăm lịch, bên Chăm Bàlamôn mời các vị Acar bên Bàni vào làng mình hành lễ. Ngoài ra còn nhiều nghi lễ hai bên chức sắc Ahiêr Awal cùng phối hợp với nhau để làm. Thế nên nói Ahiêr Awal tuy hai mà là một là thế.

   Nếu như ở nhiều tôn giáo khác, người đàn ông sống cuộc đời độc thân để lo chuyện đạo, thì ở xã hội Chăm lại có hiện tượng lạ, đó là các vị chức sắc buộc phải có vợ. Không có vợ - tiếng Chăm là danauk “chỗ ở” – ông không thể tham gia thực hành các nghi lễ trọng đại, và ông cũng không thể lên chức. Người vợ cần thiết là vì vậy, ngược lại người nữ Chăm không phải vì thế mà xem thường đàn ông: 

   “Kamei siam binai chai yang, o hu pathang yuw harơk girwak.”
   
“Đàn bà đẹp như tiên, không chồng ngồi bên, tựa cỏ cú” (114).

   Hay:

   “Kamei jhak binai yuw kra, hu likei dauk taphia, hadah yuw mưh.”
   
“Đàn bà xấu như khỉ, có chồng ngồi kế, sáng tựa vàng” (113).

   Ở chế độ mẫu hệ Chăm, sau đám cưới đàn ông về nhà vợ, mà tiếng Chăm gọi là ‘urang parat’ “người ngoài”. Người đàn ông phải “phục vụ” người vợ của mình trọn đời, nhưng đến khi mất thì xương cốt lại được trả về cho họ hàng bên mẹ:

   “Asar bha urang, talang bha drei.”
   
“Phần thịt về người, phần xương về mình”  (178).

   Cũng chính vì cảm được sự hi sinh hết mình đó, nên vị thế của người đàn ông trong gia đình luôn được trân trọng. Người Chăm luôn nhắc nhau rằng: 

   “Khing anưk urang, thuw krưn tơl asuw sang urang.”
   
“Lấy con người ta, đến con chó người ta mình cũng phải biết tới”  (179).

   Muk Thruh Palei là thi phẩm gia huấn ca cổ nổi tiếng của Chăm. Bà Tổ Làng này đã dạy phụ nữ Chăm quán xuyến gia đình, dạy từ việc nhỏ đến chuyện lớn, nhất là cách hành xử với người chồng của mình. Bà nói:  

   “Adat drei jiơng kamei
   
Di rim harei bhuktik pathang”
    
“Người đàn bà có đức
   
Mọi ngày phải biết phục vụ chồng”  (230)

   Là bởi vì người chồng đi “chiến đấu” ngoài xã hội (hiểu theo nghĩa rộng), phải chịu đựng phải trải qua bao nhiêu căng thẳng và mệt nhọc ngoài kia, vì thế khi về đến nhà rất cần đến bàn tay chăm chút quán xuyến của người vợ, để họ còn tiếp tục với cuộc chiến trong những ngày tháng tới: 

   “Mưyah pathang nau glai
   
Dauk jwai brei karang bruk kamei
   
Anưk jwai alah hatai
   
Pathang mai mưng glai mơy ppok lisei.”

    “Chồng đi rừng xa về
   
Công việc nhà, em đừng trễ nải
   
Chớ để lòng biếng nhác
   
Chồng về tới, em dọn cơm lên”  (236)

   Thế nên, sẽ không lạ, khi người phụ nữ Chăm luôn tiếp nhận tinh thần “phục vụ” ấy của Bà, họ đã làm theo và biến nhiều câu trong thi phẩm này thành những câu tục ngữ hay có ý nghĩa để răn dạy con cháu. 

   3. Kết luận

   Như vậy, qua chủ đề nêu trên, có thể thấy rằng tục ngữ Chăm đã thể hiện khá sinh động và độc đáo khía cạnh vi tế nhất của sinh hoạt dân tộc là văn hóa mẫu hệ và sự phân công lao động giữa người nam với người nữ trong chế độ gia đình mẫu hệ Chăm. Tục ngữ không chỉ là di sản văn hóa mà còn là phương tiện giáo dục mang tính thực tiễn cao. 

   Đó được xem là một kho tàng quý giá thâu tóm mọi tri kiến về nhiều lĩnh vực của xã hội Chăm thời xa xưa ông bà để lại. Nhờ vậy mà những con người bình dân có thể rút ra từ trong đó những bài học kinh nghiệm hết sức thiết thực giúp cho họ nhận thức, hành xử và lao động.