VÕ NGUYÊN
Tôi nghĩ những người yêu thơ từ thập niên 60 của thế kỷ XX trở đi chắc nhiều người vẫn còn nhớ đến những câu thơ của Hoài Khanh: “Rồi em lại ra đi như đã đến/ Dòng sông kia vẫn cứ chảy xa mù/ Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng/ Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”. (Ngồi lại bên cầu, trích Thân phận, Nxb Ca Dao, 1962).
Hoài Khanh tên thật là Võ Văn Quế, sinh năm 19331 tại phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Năm 24 tuổi, Hoài Khanh đã góp mặt trên thi đàn miền Nam Việt Nam với tập thơ Dâng rừng – 1957. Nhưng đến tập Thân phận (1962) ra mắt bạn đọc mới thật sự trở thành điểm nhấn ghi tên ông trong lòng độc giả. Những năm sau đó ông tiếp tục xuất bản: Lục bát (1968), Gió bấc – trẻ nhỏ – đóa hồng và dế (1970), Hương sắc mong manh (2006). Về văn, có tập truyện Trí nhớ hoang vu và khói (1970). Trước năm 1975, ngoài viết báo, làm thơ, Hoài Khanh còn dịch thuật, là người chủ trương và điều hành nhà xuất bản Ca Dao tại Sài Gòn, một trong những nhà xuất bản uy tín; ông phụ trách tòa soạn tạp chí Giữ thơm quê mẹ của nhà xuất bản Lá Bối.
Về tác phẩm dịch thuật, ông rất chọn lọc để giới thiệu với bạn đọc những triết gia, nhà văn, nhạc sĩ lớn của thế giới, đến nay vẫn còn sức hấp dẫn để nhiều người tìm đọc, như: 3 tác phẩm của Hermann Hesse (bút kí Hành trình sang Đông Phương (Die Morgenlandfahrt), Nxb Ca Dao, 1967; tiểu thuyết Tuổi trẻ băn khoăn (Demian) Nxb Ca Dao, 1968 và Đâu mái nhà xưa, Nxb Ca dao, 1973); Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống của Krishnamurti, Nxb Ca Dao, 1969; Mozart cuộc đời và nghệ thuật của Percy M. Young, Nxb Ca Dao, 1972; Nghệ thuật truyền thống và chân lý của Walter Kaufmann, Nxb Ca Dao, 1967; Beethoven một phiến tài tình thiên cổ lụy của J. W. N. Sullivan, Nxb Ca Dao, 1972; Tchaikovsky cuộc đời và nghệ thuật của Percy M. Young, Nxb Ca Dao, 1972; Buông xả thanh thản, Đối thoại triết học của Martin Heidegger, Nxb Văn hóa, 2007.
Sau năm 1975, ông về sống ở phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và tiếp tục sáng tác. Tác phẩm của ông được các nhà xuất bản liên kết tái bản. Ông mất ngày 23 tháng 3 năm 2016, thọ 83 tuổi.
Hoài Khanh là tác giả văn học lớn ở miền Nam Việt Nam cùng thời với các nhà thơ tên tuổi, như Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Bùi Giáng, Nguiễn Ngu Í,… Từ khi ông xuất bản tác phẩm đầu tay cho đến sau khi ông mất đã có rất nhiều bài viết về ông của các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu phê bình văn học. Tập san văn học nghệ thuật Quán Văn2 có dành một chuyên mục về chủ đề Hoài Khanh và nỗi cô đơn thân phận. Có những sinh viên cao học viết luận văn bảo vệ thạc sĩ về thơ Hoài Khanh.
Dòng sông quê hương – nơi khơi nguồn cảm hứng
Đọc thơ Hoài Khanh, tôi bắt gặp xuyên suốt trong cảm thức của ông về triết lý dòng sông và nỗi buồn thân phận. Có thể nhận thấy hình ảnh dòng sông chảy theo chiều dài thơ ông từ tập Dâng rừng (1957) cho đến mãi về sau. Đó có thể là dòng sông vật lý, dòng sông tâm lý, cũng là dòng chảy thời gian, dòng chảy cuộc đời, chuyển biến theo nhiều cung bậc về tình cảm cũng như nhận thức, nơi nhà thơ gửi gắm chiêm nghiệm về lẽ sống. Trên cái dòng sông ấy, thấy hiện lên nỗi buồn thân phận trong trạng thái cô đơn để đi tìm nguồn cội. Nỗi buồn thân phận là cảm hứng thẩm mỹ trong sáng tác của ông. Khi trải nghiệm qua nỗi buồn con người trở nên lắng đọng, sâu sắc, chín chắn, ý nhị hơn khi nhìn nhận về chính mình cũng như nhìn ra thế giới khách quan bên ngoài.
Mỗi nhà thơ bao giờ cũng có những suy nghiệm và mỹ cảm về nơi mình sinh ra và lớn lên. Tìm hiểu khám phá cảm thức và suy nghiệm ấy của nhà thơ là tìm về một thế giới thẩm mỹ mênh mông, nhiều khi rơi vào huyền bí trong vô thức tâm linh không lường hết được. Ở đây, thơ Hoài Khanh thể hiện những suy nghiệm tình đời và cảm thức quê hương, một thời ông được mệnh danh thi sĩ của dòng Cà Ty – dòng sông vắt ngang qua lòng thành phố Phan Thiết. Người đọc cảm nhận ở thơ ông một tâm hồn, một nhân cách, một tấm lòng gửi gắm qua những vần thơ gắn kết với địa danh in bóng quê nhà. Dòng sông trở thành một địa danh rất riêng, góp phần tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về cuộc sống, ở đó có bóng hình tươi tắn chân quê, vẽ lên nét đẹp ca dao với “gái má hồng” quen thuộc như đã từng gặp trong dân gian với cảm xúc đằm thắm: “Rằng em là gái má hồng/ Rằng nhà em ở bên dòng Cà Ty/ Một hôm hạnh ngộ bất kỳ/ Gặp người trong mộng dễ gì quên sao?” (Hỡi người tóc suối áo bay, trích Gió bấc – trẻ nhỏ – đóa hồng và dế). Ngôn từ diễn đạt mộc mạc nhưng khắc họa được khoảnh khắc tình cảm đến bất ngờ, như một cơn gió mùa xuân làm rung động trái tim chủ thể trữ tình sâu đậm, “dễ gì quên sao?”. Tiếng thơ nhiều khi nghe chừng ray rứt trong tâm tưởng, lưu luyến rảo bước lang thang theo sương núi, mây ngàn những lúc cách xa: “Biển mang niềm nhớ đi hoang/ Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn3 / Ôi sương Núi Cú4 lạnh hồn/ Người đi nhớ dãy Ba Hòn5 trơ vơ/ Cành dương cát trắng hững hờ/ Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau” (Đức Nghĩa – Thân phận). Những tính từ đi sau địa danh gợi lên hồi ức thân phận tha hương đến chạnh lòng, nghe cô đơn trống vắng trước không gian trơ vơ, hững hờ, chừng như giá rét đang thấm vào bên trong, lạnh hồn chứ không phải cái lạnh “dao hàn cắt da”6 bên ngoài. Có khi mượn dòng sông để bày tỏ nỗi lòng cùng quê, nói với sông mà như nói với chính mình từ những dòng xanh, ngọn gió, giọt sương: “Một dòng xanh mấy niềm sâu/ Ngẩn ngơ gió lạnh từ đâu thổi về/ Trở mình sương rụng trên đê/ Người đi rồi chẳng thấy về, chao ôi” (Cà Ty – Thân phận). Ai mong đợi nơi dòng sông xanh, người đi hay kẻ ở, ai mong ngóng từ dòng sông quê nhà với mấy niềm sâu? Nếu người đi là tự trách chính mình, hờ hững tha phương; nếu người ở lại thì mang nỗi buồn lạnh lẽo âm thầm hướng theo bước chân lưu lạc. Người đi kẻ ở đều biết cả, nhưng chủ thể mong ngóng là người ở lại, hụt hẫng đợi chờ, “chao ôi”. Tình cảm quê nhà vấn vương không dứt, những ngày xa quê chỉ gặp một cơn gió nồm thổi nhẹ thoáng qua thì nỗi nhớ thương kia cũng trỗi dậy mênh mang: “Đã mòn chưa núi sông xanh/ Biển ầm sóng gọi hai ngành phân ly/ Ngàn năm một bến Cà Ty/ Đổ ra cửa biển còn gì thanh xuân”. Bởi trong ngọn gió nồm kia chở theo hàng hàng lớp lớp hình ảnh quê nhà hiện lên, phơi ra như đã từng trông thấy, từng nghe, tưởng chừng như từ trong quá khứ “ngàn năm” xa xưa thổi về một trời tâm tưởng, sao mà nhớ, mà buồn: “Với chim Quốc vọng sau rừng/ Với tranh tóc xõa nắng bừng ngây trưa/ Với chiều nước lũ theo mưa/ Sương trên Tà Cú nguồn đưa gió về/ Sáo chiều giục giã lê thê/ Trắng con buồm gió lòng về sớm hôm/ Chiều sa ngọn cỏ gió Nồm/ Trùng vây bước lạnh một hồn thu thanh” (Xa quê nghe gió nồm – Thân phận). Không gian tâm tưởng nghe chừng xa lắc, nơi bóng hình xứ sở làng quê lặng lẽ xưa kia, ngỡ từ hoang dã cũng chẳng bình yên, chiến tranh và tàn phá, kẻ ở người đi, sự việc diễn biến khác rồi, sự sống tưởng chừng như cạn kiệt, “hai ngành héo hon”, chỉ còn lại chia lìa và nỗi nhớ: “Nơi đây còn một bóng người/ Với dừa xanh biếc với trời âm u/ Đêm đêm tiếng cọp gầm gừ/ Buồn xưa cổ thụ đèn mù giọt tranh/ Một hôm súng nổ tan tành/ Người đi kẻ ở hai ngành héo hon” (Hàm Tân – Thân phận)7.
Chưa thấy nhà thơ nào viết về hình tượng dòng sông in đậm như trong thơ Hoài Khanh để gửi gắm triết lý tình đời. Qua hình ảnh dòng sông, dòng trôi của thời gian, người đọc bắt gặp những biến động đời người. Dòng chảy ấy là những cảm xúc từ nhận thức đến con tim, xuất phát từ mạch nguồn của quy luật đời người trong cõi nhân sinh. Hiện tượng đến rồi đi của kiếp người cứ trôi trên dòng trôi vô tận: “Ý về buồm lạnh trăng hoang/ Thuyền đi nước lại ta còn chi đâu/ Thét lên một tiếng run màu/ Nghìn xưa nay vẫn qua cầu nước ôi” (Thời gian – Thân phận). Ý niệm mất còn không ranh giới, thoáng còn thoáng mất khoảnh khắc nối nhau: “Chuyến xe đò bỗng gặp giữa rừng mưa/ Vui biết mấy một tiếng còi đơn độc/ Rồi chuyến xe đi đường dài núi dốc/ Biết làm sao tìm lại dấu qua rồi/ Tiếng còi buồn thông cảm đã xa xôi/ Thế là hết mỏng manh niềm hạnh ngộ” (Ngày tháng trôi qua – Thân phận). Mâu thuẫn cảm xúc biến động liên hồi, trạng thái bất thường xáo trộn, cái gì “đơn độc” thường rơi vào cõi riêng tư lẻ bóng, thế mà nghe tiếng còi đơn độc lại thấy vui. Nhưng chuyến xe vẫn còn trên đường dài dốc núi lại nhận ra mọi cái đã xa rồi, “làm sao tìm lại”, tiếng còi trở buồn bởi đã trôi xa.
Ông nhận ra dòng đời của bản thân là một dòng sông đơn lạnh trôi đi không biết đến nơi nào trước sự vận động biến đổi liên hồi không ngừng của thời gian, cuốn trôi đi tất cả, khó mà níu kéo, biết tìm đâu để giải tỏa nỗi buồn, để tìm lại những gì đã mất, nó là quy luật tất yếu của cuộc sống, tất cả đều thay đổi, không có gì là vĩnh cửu: “Nước xuôi lạnh một dòng sầu/ Biết về đâu hỡi mấy màu thời gian”. Cảm về dòng nước trôi cũng đồng thời tìm thấy mối tương đồng trong chính cuộc sống của mình. Thơ ông là những trạng thái cảm xúc phức tạp với nỗi buồn chia ly, niềm mong chờ vô định: “Trái sầu ai rụng giếng vàng/ Bờ sông chia nhớ trăng ngàn lênh đênh” (Quên - Thân phận). Ẩn dụ trái sầu, giếng vàng, bờ sông, trăng, đò, núi là những suy ngẫm sâu xa về tình yêu và cuộc sống con người. Có những nỗi buồn rơi xuống không gian rực rỡ (giếng vàng) chìm sâu vào quá khứ, để lại nỗi nhớ nơi bến bờ chia tay. Hình ảnh “trăng ngàn lênh đênh” gợi nhớ cảnh sống phong trần trong Chinh phụ ngâm: “Xông pha gió bãi trăng ngàn,/ Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành”. Nhưng chủ thể trữ tình ở đây không phải chinh phu ra trận, mà là khách giang hồ phiêu bạc trên “chuyến đò” trần gian, không điểm tựa, không phương hướng: “Nằm đâu chờ chuyến đò lên/ Sông ơi núi hỡi bập bềnh phương mô”, một trạng thái đợi chờ bất định giữa mênh mông và lòng tưởng nhớ: “Sông xanh trời trắng mây vàng/ Chút hồn sơ cổ rợn ngàn sương phong” (Quên – Thân phận). Trên dòng trôi ấy có chăng sót lại mảnh ghép nỗi lòng cổ kính xa xưa khi tìm lại chính mình giữa sắc màu bao la nghe chừng lạnh lẽo – rợn ngàn sương phong, không hòa nhập được với nhịp sống hiện đại.
Dòng sông đời người trôi qua tưởng chừng khuất lấp vào dĩ vãng, để rồi phai nhạt, quên đi, nhưng không phải vậy, nó luôn ám ảnh đeo đuổi trong ký ức với bao nỗi niềm: “Thôi em đời một lần quên/ Dòng sông thuở ấy lênh đênh mất rồi/ Đưa tay tìm bóng xa xôi/ Biết mình vẫn sống một đời khói sương” (Dòng sông thuở ấy lênh đênh mất rồi – Thân phận). Ngỡ động viên em, “Thôi em đời một lần quên”, nhưng thật ra động viên với chính mình, muốn quên đi nhưng nào có được. Cái dòng sông tình cảm “thuở ấy” cứ trôi nổi “lênh đênh” không ổn định, dẫu nhân vật đã cố gắng níu giữ điều gì đó trong quá khứ: “Đưa tay tìm bóng xa xôi”, nhưng vô vọng, tất cả đã vuột khỏi tầm tay, nhận ra sự sống mong manh như bóng mờ sương khói, biến đổi vô thường, thoáng qua rồi tan biến, “một đời khói sương”, chỉ còn biết trân trọng cái khoảnh khắc ngắn ngủi vô lường của sự sống mà thôi.
Nẻo về nguồn cội – Dòng sông vô thường
Để nhận ra cội nguồn, gốc rễ, xuất phát điểm ban đầu là những giá trị cốt lõi của đời người, phải biết trân trọng, xa rời nó sẽ đánh mất giá trị truyền thống tốt đẹp, để rồi những mối quan hệ thân thiết sẽ rơi vào lạc lõng, lẻ loi: “Con sông nào đã xa nguồn/ Thì con sông đó sẽ buồn với tôi” (Dòng sông của tôi – Thân phận). Đời sông kia nhất thể với đời người, ai đó cũng như mình, nếu đánh mất cội nguồn sẽ rơi vào bế tắc, biết tựa vào đâu! Nỗi niềm lo ngại đánh mất ấy luôn bám vào đọng lại trong tâm thức nỗi buồn thân phận! Dòng sông trong cảm thức Hoài Khanh là dòng sông mong manh không ngừng vuột biến trôi qua, “Tháng rồi năm... dòng nước vẫn qua cầu/ Và như thế... có gì đâu vĩnh viễn” (Đêm trắng canh tàn – Thân phận). Ông nhận ra đời người như dòng nước đã trôi qua thì không bao giờ gặp lại, như sự việc diễn biến khôn lường trên cõi đời này, “có gì đâu vĩnh viễn”, nhiều khi không dám nhìn nhận, nhưng thực tế vẫn cứ bày ra, rồi tan biến, rơi vào hư vô, thấy mình bất lực trước sức mạnh dòng trôi: “Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể/ Mây của trời rồi gió sẽ mang đi”. (Ngồi lại bên cầu – Thân phận). Tất cả rồi cũng trả về tánh không, như “mây của trời” kia, có gì đâu, hiện hữu đó rồi tan biến đó. Khi nhận ra được chân giá trị không thể vọng tưởng về sự chiếm hữu tồn tại trong thực tại, nên mới “lẩn trốn vì thấy mình không thể”, cái muốn tìm để thấy, để giữ đã vĩnh viễn xa rời, tất cả muôn đời không ổn định. Đó là sự tuần hoàn, trôi chảy của thời gian, là những biến động tâm tưởng. “Nước nguồn sông lại là sông/ Lòng muôn năm vẫn một lòng quạnh hiu” (Thầm lặng – Thân phận). Nhận ra sự nhất thể giữa biến và bất biến, dẫu dòng nước kia liên tục trôi đi, trải qua bao mùa mưa nắng, liên tục chảy về nơi vô định, nhưng quy luật tự nhiên có những tồn tại riêng của nó, không đổi thay như sông vẫn là sông. Cũng như nhận thức và tình cảm con người trong cõi nhân gian: “Lòng muôn năm vẫn một lòng quạnh hiu”. Thế giới chung quanh không ngừng vận động, nhưng sự cô đơn và nỗi buồn trong bể khổ trần ai không hề phai nhạt, khác nào hiện tượng thiên nhiên kia “sông lại là sông”, trạng thái tình cảm con người muôn đời vẫn thế, mọi thứ rồi sẽ trôi qua, chỉ còn trống vắng, “quạnh hiu”, không níu giữ được gì, là một tất yếu. Ý thơ là dòng triết lý về lẽ sống. Con người như chiếc lá trôi trên dòng sông, cứ thuận theo lẽ tự nhiên, để nó trôi đi, cố gắng níu kéo đến đâu cũng không thể giữ. Không phải đến Hoài Khanh mới mượn dòng sông để ký thác nỗi niềm xót đau về sự trôi chảy vĩnh hằng, mà hơn hai nghìn năm trăm năm trước, một triết gia Hy Lạp đã từng nói: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” 8 . Đến Lý Bạch đời Đường cũng ngắm dòng sông Hoàng Hà rồi uống rượu mà ngẫm về dòng thời gian trôi qua trên đời người không bao giờ trở lại: “Quân bất kiến: Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,/ Bôn lưu đáo hải bất phục hồi! Hựu bất kiến: Cao đường minh kính bi bạch phát,/ Triêu như thanh ty, mộ thành tuyết.” (Thương tiến tửu). (Dịch nghĩa: Anh không thấy:/ Nước sông Hoàng Hà chảy từ trên trời xuống,/ Chảy ra đến biển không quay trở lại nữa./ Anh lại không thấy:/ Cha mẹ soi gương buồn nhìn tóc bạc,/ Sáng còn như tơ đen mượt, chiều tối đã trắng như tuyết)9. Hoài Khanh luôn kiểm nghiệm dòng trôi tâm lý tình cảm trước dòng thời gian vật lý khách quan lạnh lùng nghiệt ngã, “Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù”, mịt mờ, xa vắng, hướng về nơi không bến bờ, để rồi nuối tiếc, nhớ thương một khung trời đã mất giữa phận đời đơn độc, “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng/ Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”. (Ngồi lại bên cầu – Thân phận). Khung trời dĩ vãng ấy có thể là khung trời tuổi thơ với bao hoài bão, ước nguyện không thành hiện thực, tất cả đã nhấn chìm, khuất lấp dưới lớp sóng thời gian, chỉ còn khoảng không hoang vắng. Biểu tượng con sông không ngừng trôi chảy gợi lên cảm giác cô đơn, lạc lõng. “Tháng ngày đau đớn xuôi trôi/ Mang theo nguyện ước một đời trẻ thơ/ Chảy hoài sông vẫn trơ vơ/ Những con thuyền cũ bây giờ nơi đâu”. (Đổi thay – Thân phận). “Những con thuyền cũ” chở bao kỷ niệm “nguyện ước một đời” trôi dạt trước vô tận của tháng ngày, “bây giờ” nhìn lại chẳng biết lưu lạc nơi đâu. Tìm về quá khứ chỉ còn trong khoảng không gian mơ hồ mờ mịt: “Lối xưa mây xám nghẹn màu/ Thuyền xuôi qua mấy nhịp cầu chênh vênh” (Tự tình – Dâng rừng). Chiếc cầu và con thuyền biểu tượng cho sự kết nối luôn xuất hiện trong thơ Hoài Khanh, nhưng chiếc cầu kia không phải là điểm tựa vững chãi, không gian thuyền đời xuôi qua trước sự bất an, “chênh vênh”, trơ trọi.
Cầu và thuyền là hai vật thể hữu hình, là phương tiện giúp ta vượt qua dòng nước để đến được nơi mình muốn đến. Cầu tượng trưng cho sự bắt nhịp trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội. Để kết nối và hiểu nhau, chúng ta cần những chiếc cầu, đó là sự thấu hiểu, lòng tin, và sự sẻ chia. “Qua sông là một nhịp cầu/ Qua tôi là một kiếp sầu vô chung” (Tự tình – Dâng rừng). Muốn vươn đến mục tiêu đã đề ra phải có chiếc cầu làm phương tiện. Chiếc cầu có thể là kiến thức, là kỹ năng với những nỗ lực mới giúp cập được bến bờ mong muốn. Nó còn là chiếc cầu thời gian nối những quãng đời mà chúng ta đi qua từ quá khứ đến tương lai. Đó là cái chung về chuyện qua sông, còn đến với cái riêng của mỗi con người: “Qua tôi là một kiếp sầu vô chung”. “Tôi” là một con người cụ thể, nhưng có sự gặp gỡ ở mỗi con người trong cõi nhân sinh, nỗi niềm ấy “qua tôi” để mà suy ngẫm đến cái chung của mỗi kiếp người – là khoảng thời gian sống của một đời người, ở đó nỗi sầu cứ dai dẳng đeo bám – “kiếp sầu vô chung”, sự buồn thảm khổ đau trải qua xuyên suốt không có điểm dừng (vô chung), không giới hạn, không kết thúc, như một định mệnh phải gánh lấy. Bởi thân phận làm người đều mang những nỗi niềm riêng, nằm trong cái chung theo vòng tuần hoàn “sinh lão bệnh tử” (sinh ra, lớn lên, già đi rồi chết), đời người ai cũng trải qua. Ở đây đặt ra những vấn đề về vũ trụ quan, mang yếu tố triết học về ý nghĩa của sự tồn tại, cho thấy tác giả muốn gửi gắm những suy tư sâu sắc về sự sống, về con người. Người đọc có thể tìm thấy trong đó những nỗi niềm riêng của mình, để sẻ chia, hóa ra con người không đơn độc trong những nỗi buồn, trong những khổ đau. Vì thế phải biết cùng nhau xây những chiếc cầu nối tiếp đôi bờ, cùng nhau vượt qua, làm cho mỗi đời người sống có ý nghĩa hơn. Lời tâm sự đậm đà màu sắc nhân văn.
Cảm hứng về dòng sông, thời gian, đời người ấy cứ chảy miên man trong thơ Hoài Khanh: “Người về vui bến cũ,/ Hôn hoàng mà mơ say,/ Mắt huyền rung mí chớp,/ Buồn như trên sông này (...) Nghìn năm là dĩ vãng,/ Tang thương là ân tình./ Bên này trông bên nớ,/ Thuyền giữa dòng lênh đênh (...) Sông nước chiều quanh co./ Mây chẳng về lối cũ,/ Gió chẳng gọi muôn trùng,/ Hoàng hôn về chặn lối,/ Sông trôi buồn mông lung./ Nghe hồn say mí mắt,/ Hoang mang lên chập chùng”... (Sông buồn – Dâng rừng). Tâm trạng đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa niềm vui mong manh và nỗi buồn mênh mông. Quá khứ là hoài niệm với những gì tươi đẹp, những mối tình đã qua, nhưng quá khứ cũng chỉ là dĩ vãng, hiện tại rơi vào cảm giác đơn côi tan loãng: “Thuyền giữa dòng lênh đênh”, nổi trôi nay đây mai đó, không phương hướng, không điểm tựa, “Hoang mang lên chập chùng”, trong thời điểm ngỡ chừng như kết thúc, lụi tàn, “Hoàng hôn về chặn lối,/ Sông trôi buồn mông lung”. Cũng như mây gió kia, làm sao mà nắm giữ: “Mây chẳng về lối cũ,/ Gió chẳng gọi muôn trùng”, làm cho những ước mơ trở nên tan vỡ. Những suy ngẫm về cuộc sống, về tình yêu, về thời gian, nhắc nhở con người về giá trị của quá khứ, cũng như sự vô thường của cuộc sống. Người ta thường khao khát tìm về những gì đã mất, nỗi niềm hoài cổ đó thuộc về bản ngã người đời, nhưng là để chiêm nghiệm đúc kết với tâm sự buồn, cuối cùng vẫn phải chấp nhận hiện thực để hướng về tương lai.
Dòng sông trong thơ Hoài Khanh trở thành biểu tượng của dòng lịch sử với những đau thương mất mát của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, trên dòng trôi lịch sử ấy là máu của bao thế hệ cha ông đã đổ xuống: “Hốt nhiên tôi trực nhận dòng sông/ Chính là máu của ngàn năm tích lũy/ Đã chảy hoài trong những cuộc chiến tranh kia (…)/ Cũng từ đó tôi bắt đầu làm thơ/ Những vần thơ quá buồn dường như ích kỷ/ Nhưng đâu lỗi tại tôi/ Vì dòng sông cứ lặng lẽ trôi hoài/ Như những cuộc chiến tranh tôi không làm sao chịu nổi” (Gió bấc - trẻ nhỏ -đóa hồng và dế). Dòng sông là chứng nhân với bao cuộc chiến tranh, đã mang trong mình những nỗi đau tang tóc. Có lẽ nhận ra điều đó nên nhà thơ thừa nhận sự ích kỷ trong những vần thơ của mình, cảm thấy những nỗi buồn cá nhân trở nên nhỏ bé trước những lớn lao của dòng sông lịch sử. Dòng sông ấy luôn “lặng lẽ trôi hoài”, tạc vào tâm khảm nỗi đau không thể nguôi ngoai. Đó cũng chính là tấm lòng của nhà thơ tìm về cội nguồn nòi giống.
Sáng tác của Hoài Khanh chịu ảnh hưởng cả tư tưởng triết học Tây phương và triết học Đông phương, thấm đậm tư tưởng Phật giáo. Trong hệ thống cảm hứng về dòng sông của ông, nhiều lần ông đã đề cập đến hình ảnh sông Hằng, nơi đức Thế Tôn đã từng đi đến và diễn ra sự việc qua sông của chúng Tỳ Kheo. Sông Hằng trong văn hóa Ấn Độ tượng trưng cho sự trường tồn, luân hồi và dòng chảy không ngừng của thời gian, mỗi ngày tẩy uế cho hàng hàng tín đồ: “Từ nơi ẩn dụ sông Hằng/ Có trong tinh thể bội phần chiêm bao/ Có trong tinh thể gầy hao/ Là cơn trùng phục mai sau vĩnh tồn/ Niềm vô hữu của linh hồn/ Là niềm thao thức chập chờn lắt lay/ Chính từ cõi thế gian này/ Con người bỗng chốc đặt bày hư không” (Cõi tuần dưỡng)10 . Ở đây, sông Hằng sử dụng như một ẩn dụ có thể được “trùng phục”, vượt qua cả sinh tử về sự hồi sinh vĩnh hằng, nhưng cái cảm thức trừu tượng về thế giới tâm linh đó chính là “niềm thao thức” luôn ẩn hiện “chập chờn” không yên. Bởi từ cõi tạm này, nơi chúng ta sinh ra, lớn lên, mọi thứ ta đang có, đang làm, kể cả bản thân, tưởng chừng bền vững, vĩnh hằng, nhưng rồi cũng sẽ ra đi, “bỗng chốc” trở thành hư vô. Ta thấy Hoài Khanh vừa tìm cách lý giải về lẽ sống, vừa truy tìm về nguồn cội con người, đó là một hành trình vô cùng nhọc nhằn, vất vả.
Từ sự chìm đắm trong dục vọng trần tục, nhà thơ đã nhận ra sự vô thường của cuộc sống và hướng về con đường giác ngộ. “Con từ sa cõi Phan Duyên/ Nếm mùi nghiệp chướng lụy phiền não nhân/ Tham sân như cát sông Hằng/ Đắm mê bóng sắc quên thân phận mình/ Một hôm sực nhớ câu kinh/ “Không phải chỗ trụ mà sinh tâm mình”/ Nhân ngày Phật tổ đản sinh/ Con xin dâng tấm lòng thành ăn năn” (Sám hối tâm kinh)11. Nhận ra bản thân đã từng chìm đắm trong những vòng xoáy cám dỗ, những phiền não, tham sân của con người vô tận không đếm xuể, như cát sông Hằng kia, khiến con người quên đi bản chất thật của mình. Đến lúc ngộ ra, bản chất con người không phải là thứ vật chất, danh vọng, mà là tâm (“Không phải chỗ trụ mà sinh tâm mình”). Tâm mới là nơi sinh ra mọi dục vọng trần tục và cũng là nơi giải thoát chúng để đến được bến bờ an nhiên.
Ở một thời điểm khác, sông Hằng xuất hiện trong thơ ông với một cảm thức khác, mới mẻ hơn: “Cái gì hễ mất là còn/ Hễ không là có hễ tròn là lăn/ Ngày xưa có một dấu chân/ Bước qua bãi cát sông Hằng nhẹ tênh” (Dấu chân từ phụ). Mới đọc qua hai câu đầu ngỡ ông nhắc đến tích Tái Ông mất ngựa, nhưng chuyện Tái Ông mất ngựa tuy đem lại một bài học rất đáng chiêm nghiệm và suy ngẫm về sự rủi may trong cuộc đời, còn Dấu chân từ phụ tuy nêu lên một nghịch lý, nhưng lại là một chân lý của cuộc sống, “Cái gì hễ mất là còn/ Hễ không là có hễ tròn là lăn”. Khi ta mất đi một điều gì đó thì sự việc đã lui về quá khứ, đồng nghĩa với việc đang mở ra một không gian mới. Có thể đó là sự mất mát về vật chất, tình cảm, hay cả một đoạn đời trong cuộc sống cá nhân, để qua đó chiêm nghiệm mà trưởng thành, khám phá những điều đẹp đẽ hơn cho cuộc sống. Ý thơ nhắc đến quy luật tuần hoàn của tự nhiên, một triết lý về sự luân hồi, sinh sôi, nảy nở rồi lại tàn phai, rồi lại bắt đầu một vòng đời mới. Nhưng mọi việc diễn ra đều mang tính tương đối, không có cái gì tuyệt đối, trong cái không có thể chứa đựng cái có, cái hư vô có thể sinh ra hữu hình. Cảm thức này không mới, bởi nó xuất hiện từ rất sớm và được trì tụng trong kinh Bát Nhã về “sắc sắc không không” (sắc tức thị không, không tức thị sắc), giữa có và không, giữa mất và còn chứa đựng lẫn nhau, giống như quan niệm của Heidegge12 về Tính thể (Sein), đưa ra vấn đề vị ngữ đã tồn tại trong chủ ngữ như trước kia Aristote13 đã từng nói. “Dấu chân” ở đây là hình bóng ẩn dụ cho những gì trong quá khứ, với tâm thế “bước qua bãi cát sông Hằng nhẹ tênh”, nơi chứng kiến biết bao thăng trầm của cuộc đời. Qua thơ Hoài Khanh, cảm nhận cái nhìn cuộc đời của ông giai đoạn về sau chắc đã được chứng ngộ, có lòng tin khi khép mình sau cửa Tam Quan, thấu cảm được những sân si, oán hận, đau khổ để tìm về với sự bình yên, an lạc trong tâm hồn. Có sự chuyển hướng trong cảm thức, nên ý thơ về sau không còn thấy đau buồn, hụt hẫng như trước, mà gợi lên cảm giác nhẹ nhàng, thanh thản, “bước qua bãi cát sông Hằng nhẹ tênh”, những người theo Dấu chân Từ Phụ, dưới bóng cha hiền, luôn mang trong mình những ý nguyện cao cả, cứu khổ chúng sinh, là chỗ dựa vững chãi trở về với cội nguồn dân tộc. Cảm hứng thơ như đã vượt qua được mọi phiền muộn, lo âu, để truyền tải thông điệp về sự vô thường, về quy luật sinh diệt của vạn vật, như nhắc nhở buông bỏ những gì không còn cần thiết, thanh thản khi đối diện với những mất mát, và đón nhận những điều mới mẻ.
Phan Thiết, cuối thu – đầu đông 2024
VN
_________________________________________________
1 Có tài liệu ghi ông sinh năm 1934.
2 Tập san Quán văn – nhà văn Nguyên Minh chủ biên, số 26, tháng 10 năm 2014.
3 Tà Dôn nay thuộc huyện Hàm Thuận Bắc
4 Núi Cú (Núi Tà Kú) nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam.
5 Ba Hòn nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam.
6 Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều.
7 Trích chùm thơ Bình Thuận, 4 bài, trong Thân phận, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tái bản lần 6, 2014.
8 Heraclitus, triết gia cổ đại Hy Lạp (534 TCN – 475 TCN)
9 Lý Bạch (李白; 701 - 762), tự Thái Bạch (太白), hiệu Thanh Liên cư sĩ (青蓮居士), là một trong những nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng nhất thời Thịnh Đường nói riêng và Trung Hoa nói chung.
10 Trích theo Thích Phước An (Hoài Khanh, người thi sĩ đi tìm lại nguồn cội của một dòng sông) – Thân phận – thơ Hoài Khanh, Nxb Hồng Đức, 2014.
11 Trích theo Thích Phước An – Trong Hương Sắc Mong Manh, thi phẩm mới nhất Hoài Khanh có bài nhan đề là Sám Hối Tâm Kinh.
12 Martin Heidegger (1889 – 1976) là một triết gia Đức. Ông chịu ảnh hưởng của nhà triết học Franz Brentano. Sau khi nghiên cứu, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người.
13 Aristoteles (384 – 322 TCN), là một nhà triết học và bác học người Hy Lạp cổ điển. Ông là một trong những môn sinh ưu tú của triết gia Platon, đã có công sáng lập trường phái triết học tiêu dao trong khuôn viên Lyceum cũng như chủ nghĩa Aristoteles rộng lớn hơn.
Nguồn tham khảo:
vi.wikipedia.org›wiki›;triethoc.edu.vn›chuyen-de-triet-hoc; phatgiao.org.vn; Tự điển - phan duyên - Phatgiao.org;dcvphanxicoxavie.com/vn/Triet-Hoc/Sieu-Hinh-Hoc-Cua-Martin-Heidegger.html;vi.wikipedia.org›wiki›Cổng_tam_quan; Đoàn Việt Hùng – Trang sách và những giấc mơ bay, tập 1, Ý thức xuất bản 2022;