TRẦN DUỆ

Ông Phạm Mè thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ tại Đài liệt sĩ xã Nghị Đức (Tánh Linh)
Vào viếng đài liệt sĩ xã Nghị Đức, trong đầu tôi cứ thắc mắc, là trong danh sách 92 liệt sĩ được in trên hai tấm bia, hầu hết đều có nguyên quán tỉnh Quảng Nam, chỉ duy nhất liệt sĩ Huỳnh Xe có nguyên quán ở tỉnh Long An, sinh năm 1946, nhập ngũ tháng 3/1968, hy sinh tháng 5/1970. Muốn hỏi một ai đó trong xã để biết nhưng rồi cứ nghĩ sợ người ta chê mình là hỏi vớ vẩn, bởi vì cuộc chiến tranh chống Mỹ vô cùng ác liệt và kéo dài nhiều năm, có nhiều người tham chiến thì địa phương nào lại không có người hy sinh? Dù nghĩ vậy nhưng tôi vẫn cố tìm hiểu về ông Huỳnh Xe. Qua lời kể của những người đã tiếp xúc, tôi mới biết thêm những câu chuyện dù đã cũ, cùng những người đã lớn tuổi ở Nghị Đức, mà lâu nay bà con địa phương gọi là “dân bám trụ”. Thực ra đây là những người dân chống lại chính sách dồn dân vào khu ấp chiến lược của chính quyền ông Ngô Đình Diệm, để ở lại vùng giải phóng. Họ đã sống và chiến đấu, đóng góp không ít công sức và cả cuộc đời họ để làm nên chiến thắng Tánh Linh ngày 25 tháng 12 năm 1974. Tất cả đều biết về ông Huỳnh Xe!
Thực hiện chính sách dinh điền ở Miền Nam (1957-1963), năm 1960, bà con Quảng Nam được chính quyền Ngô Đình Diệm đưa vào sống ở các xã thuộc vùng bắc sông La Ngà thuộc huyện Tánh Linh. Theo tài liệu của huyện, lúc đó dân số xã Nghị Đức có khoảng 3.500 người. Đến năm 1965, thực hiện chính sách dồn dân để cách ly với Cộng sản, chính quyền Sài Gòn đưa bà con Nghị Đức về sống tập trung trong các ấp chiến lược ở xã Nam Chính và Võ Đắt của huyện Đức Linh ngày nay.
Ông Nguyễn Văn Trợ, thường gọi là Hai Trợ (sinh năm 1940) là người đi dinh điền ngay đợt đầu năm 1960. Và chính ông cũng là người cùng nhiều gia đình chạy vào rừng để không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) bắt đưa về khu ấp chiến lược. Người dân trong xã được chia ra sống trong rừng ở ba khu gồm: Suối Đá, Nông Cơ và Tân Binh. Theo như trí nhớ của một số người, cả ba khu có ước chừng 70 gia đình với khoảng 200 người. Từ năm 1965 đến 1973, chính quyền VNCH tổ chức nhiều đợt càn quét để bắt dân đưa về vùng họ quản lý, nhưng sau đó có nhiều người lại trốn ra vùng kháng chiến. Vì vậy, dân số trong xã Nghị Đức nói riêng và dân bám trụ của huyện Tánh Linh nói chung lúc đó rất khó xác định. Là trưởng ban an ninh kiêm chính trị viên xã đội Nghị Đức suốt từ năm 1965 đến 1984, ông Trợ biết rất rõ những thăng trầm, gian khổ của người dân từng sống và chiến đấu ở chiến trường Nghị Đức nói riêng và cả huyện Tánh Linh nói chung. Người dân đi phát rẫy để sản xuất lương thực nhưng thường là không thu hoạch được, do lính VNCH đến đốt, phá sạch; cộng thêm máy bay Mỹ nhiều lần rải chất độc làm cây rừng cháy khô, cây lương thực cũng không còn. Dân bám trụ phải ăn măng, củ chuối, đọt mây, lá bép thay cơm. Mỗi người chỉ có một bộ áo quần, khi tắm xong phải mặc lại đồ ướt cho tới lúc khô. Đêm đêm, những chòi lợp lá ẩn sâu trong rừng luôn im phăng phắc và tối om, do không được thắp đèn vì sợ bị lộ. Những cơn sốt kéo dài làm vàng da, rụng tóc… nhưng họ vẫn kiên quyết bám trụ để làm du kích, đi dân công vác đạn, góp phần giải phóng Miền Nam.
Nghe anh Phạm Mè, thường gọi là Cả Mè (1957), kể về những năm tháng làm dân bám trụ, tôi thấy xúc động! Tuổi thơ của anh chỉ quanh quẩn với chiến khu. Ngoài việc đói ăn, đói mặc thì đói chữ là điều day dứt của cuộc đời anh. Năm 1965, cha ruột của anh là ông Phạm Đây (1937) dắt vợ con chạy vào rừng ở Suối Đá để không bị bắt về khu ấp chiến lược. Năm 1970, lính VNCH càn quét bắt được mẹ anh cùng năm anh em trong gia đình đưa về khu tập trung ở xã Nam Chính. Những ngày bị giam lỏng đó, anh luôn nhớ về chiến khu Nghị Đức. Năm 1973, cha của anh đã móc nối được với cơ sở cách mạng ở trong ấp để đưa gia đình trở về vùng kháng chiến. Mẹ của anh giả bộ đưa bốn đứa con ra đồng mót lúa, ở đó đã có cán bộ cách mạng đón rồi đưa vào rừng. Riêng anh thì đi ngược lên Võ Đắt. Lúc đến đoạn đường vắng, anh bỏ chạy vào rừng, mặc cho tiếng súng nổ chát chúa sau lưng. Sau bốn ngày đêm đi theo giao liên, anh Cả Mè về tới Nghị Đức, rồi gia nhập lực lượng du kích xã và chiến đấu cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì về làm ruộng để sống.
Trong câu chuyện, ông Hai Trợ và anh Cả Mè thường nhắc đến “Bác sĩ Phú”. Họ cho biết là dân bám trụ ở Nghị Đức đã mang ơn bác sĩ Phú quá nhiều! Mẹ anh Mè bị băng huyết do sau sinh, “Bác sĩ Phú” đến khám rồi chích và cho uống thuốc, anh Mè nói: “Chắc sống tới lúc chết, tôi không bao giờ quên ơn bác sĩ Phú”. Sau này tôi tìm gặp “Bác sĩ Phú” qua chỉ đường của người dân Nghị Đức. Anh tên là Đào Minh Phú (1948) hiện nghỉ hưu ở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. Nhà của cha mẹ anh ở xã Sùng Nhơn, huyện Đức Linh. Năm 1964 lúc đó mới 16 tuổi, anh đi làm rẫy rồi tiếp xúc với hai anh chị cán bộ cách mạng. Anh được giải thích “Làm cách mạng là đi chiến đấu để giành quyền lợi cho người nghèo, bảo vệ những người bị áp bức”. Vốn đã từng chứng kiến người cha ruột của mình bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và tra tấn dã man vì bị tình nghi “Việt Cộng”, trong khi cha mình chỉ là một nông dân chất phát, hiền lành, không biết gì về chính trị, anh quyết định đi làm cách mạng để trả thù cho cha cùng nhiều bà con bị áp bức. Về nhà, đứa em gái út mới sinh được 4 tháng tuổi đang nằm ngủ trên võng, anh nhẹ nhẹ bồng đứa em đặt xuống giường, tháo chiếc võng quấn quanh người, phủ áo che kín rồi đi vào rừng. Khởi đầu cho cuộc đời cách mạng của anh chỉ như vậy! Tôi hỏi anh vì sao bà con Nghị Đức gọi anh là bác sĩ. Anh chỉ cười rồi nói, là bà con gọi cho vui thôi, chứ thực ra anh chỉ là y tá quân đội. Năm 1967, đang ở đại đội 421, huyện đội Hoài Đức, trên đường hành quân, anh bị đạp mìn đứt lìa một nửa bàn chân. Bình phục, anh được cho đi học lớp y tá 6 tháng ở căn cứ La Dạ để làm nhiệm vụ điều trị cho bộ đội của huyện đội Nam Thành, đang đóng quân trên địa bàn Nghị Đức. Mỗi lần người dân Nghị Đức có ai gặp ốm đau, kể cả cần đỡ đẻ, đều chạy đến huyện đội xin “bác sĩ Phú” đến giúp. Là người duy nhất trong xã làm ngành y, trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, sơ sài nhưng anh lại là vị cứu tinh của cả xã. Ngoài những đợt được cấp trên cho đi tập huấn ngắn ngày về phương pháp điều trị mới, anh phải tự học bằng cách qua sự chỉ bảo của người khác. Nếu bệnh nào không biết thì chạy về cấp trên trình bày nhờ họ chỉ cho cách điều trị và cấp thuốc. Nhờ vậy mà anh đã cứu sống nhiều người bằng cả Tây y lẫn các loại lá và rễ cây trong rừng do tự anh thu hái. Anh Phú đã từng điều trị bệnh sốt rét cho ông Huỳnh Xe.
Trở lại chuyện tìm hiểu về ông Huỳnh Xe, những người mà tôi đã tiếp xúc đều biết ông Huỳnh Xe là một trong năm người lính thuộc sư đoàn 18 của VNCH, bỏ hàng ngũ để về với cách mạng vào năm 1968. Năm người đó gồm các ông: Huỳnh Xe, Nguyễn Xích, Nguyễn Mỵ, Nguyễn Thẳng, Nguyễn Y. Tôi đã tìm hiểu một số tài liệu về lịch sử cách mạng của huyện Tánh Linh nhưng không thấy ghi sự kiện này (?).
Theo ông Nguyễn Văn Trợ, chỉ có ba người là ông Xe, ông Xích và ông Y được chọn vào lực lượng du kích của xã, hai người còn lại làm dân thường. Các ông đã góp phần đánh chặn nhiều đợt càn quét của lính VNCH. Trong một đợt đi theo dõi tình hình đổ bộ của sư đoàn 18, tổ trinh sát do ông Trợ chỉ huy gồm ba du kích: Nguyễn Văn Trợ, Huỳnh Xe và Nguyễn Nuôi không may đã lọt vào ổ phục kích của đối phương, và ông Huỳnh Xe bị gãy chân ngay từ loạt đạn đầu tiên. Cả ba du kích chiến đấu rất kiên cường với hơn một đại đội được trang bị vũ khí hiện đại. Trong sự đau đớn, ông Xe yêu cầu ông Trợ và ông Nuôi nên rút quân để bảo toàn lực lượng. Một mình ông Huỳnh Xe ở lại chiến đấu và đã hy sinh. Năm đó ông 24 tuổi!
Bà Huỳnh Thị Hường – vợ của ông Nguyễn Văn Trợ, đã khóc khi tôi hỏi về ông Xe. Bà cho biết, ông Xe không có một ai thân thích, và chỉ biết ông là người Miền Tây. Bởi cùng họ Huỳnh và công tác cùng đơn vị với chồng mình, nên chị đã xem ông Xe như một người anh bà con. Bà Hường nói: “Anh Xe tâm sự, cha mẹ chết sớm, trong nhà chỉ có hai chị em tự làm thuê để nuôi nhau. Từ khi bị bắt đi lính, hai chị em cũng bặt tin nhau”.
Sau 1975, bà con Nghị Đức đưa hài cốt liệt sĩ Huỳnh Xe về nghĩa trang của xã, ít năm sau thì quy tập về nghĩa trang của tỉnh. Đến nay, ông Hai Trợ không biết chị gái của ông Xe đã nhận được bằng Tổ quốc ghi công hay chưa, và ông cũng không biết chị đang sống ở đâu để báo tin. Trong một lần xuống phòng thương binh xã hội của huyện, ông có thấy bảng Huy chương chiến công hạng Ba của Chủ tịch nước tặng cho ông Huỳnh Xe ký năm 2005 nhưng chưa có người nhận. Ông Trợ đưa về nhà đặt lên bàn thờ nhà mình. Gia đình ông cúng giỗ liệt sĩ Huỳnh Xe hơn 50 năm qua.
Những người chủ gia đình bám trụ ở Nghị Đức còn lại không nhiều và nếu còn sống thì trí nhớ của họ đã giảm, thường lẫn lộn về sự kiện, thời gian, nhưng khi nhắc đến quãng đời làm dân bám trụ thì họ nhớ như in! Điều đáng mừng là con cháu của họ phần lớn đều chăm chỉ làm ăn, học hành thành đạt, cuộc sống của người dân trong xã đã thay đổi nhiều. Hy vọng những mầm non mới sẽ là những hạt giống hòa bình, để cùng nhau xây dựng quê hương thật sự an lành để không còn ai phải chịu nhiều gian khổ như cha ông của họ.